Tôi đến AtêKa, an tòan khu (ATK) để làm báo Sự Thật đầu 1949.
ATêKa, an tòan khu là gì? Là căn cứ địa đầu não của Đảng cộng sản Đông Dương và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nằm ở chân hai con đèo tên Re và So của dãy Núi Hồng chia đôi hai huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên và Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Còn Sự Thật?
Tháng 12 năm 1945, Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán cùng với tờ báo tiếng nói của nó, Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác (không cõng kèm chủ nghĩa Lê-nin) bèn ra đời cùng báo Sự Thật. Đây là một vận động trái khoáy ngược chiều cực kỳ hiếm mà lúc ấy tôi chưa biết: vừa giành chính quyền để nổi nênh thì Ðảng đã lập tức “thoái trào,” phải rút vào bí mật, giấu tiếng, ẩn danh như chưa từng bao giờ. Con ruồi đậu xuống má rồi bay đi ta còn hay thế nhưng nghịch lý tày trời này hầu như ít ai thấy. Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại, Ðảng không hề kỷ niệm cái sự kiện tự nó đánh giá được đủ hết giá trị thật của Ðảng ngày mới ra mắt dân này bao giờ. Trong khi nồng nàn tưởng nhớ những Xô viết Nghệ Tĩnh (thất bại), Nam Kỳ Khởi nghĩa (thất bại) v. v...
Tòa soạn báo Sự Thật lúc ấy vẻn vẹn ba cây bút sắt: (Hà) Xuân Trường, thư ký tòa soạn, Quang Đạm, Thép Mới (cựu binh làm từ báo Cờ Giải Phóng trước 1945). Và một cây bút lông: Phan Kế An, tức Phan Kích hay Kịch, con cả cụ Phan Kế Toại, nguyên khâm sai đại thần nay là bộ trưởng nội vụ, người ký tên đóng dấu nổi vào thẻ nhà báo của tôi. Trong thẻ này, tôi đã chữa 19 tuổi thành 23. Vì sao? Thép Mới nói cái thẻ này ngang với coupe - fil, “cắt chỉ,” của Pháp. Được phép vượt qua bất cứ chặn giữ, kiểm soát nào. 19 tuổi thì có lẽ khó, tôi nghĩ. Và ăn gian.
Ai mách Thép Mới cái thẻ báo chí thời Pháp thuộc cắt phăng mọi rào ngăn: Trường Chinh. Trong mắt chúng tôi, Trường Chinh là cây bút luận chiến tài ba và nhà báo lỗi lạc. Tự nhiên nghĩ ngay vậy thì anh sẽ cho chúng tôi cái quyền cắt mạnh hơn cả thời Pháp mọi ràng buộc cảnh sát tại hiện trường điều tra…
Tôi đến báo đảng ngay sau khi nó vừa mở hai cuộc bút chiến lẫy lừng. Một giữa Trường Chinh và Tô Ngọc Vân về văn nghệ có phục vụ chính trị và làm tuyên truyền không. Tô Ngọc Vân phản đối. Một giữa Quang Đạm và Vũ Trọng Khánh về tòa án độc lập hay không độc lập. Vũ Trọng Khánh đòi độc lập. (Lúc ấy Quốc tế phân công Đảng cộng sản Pháp giúp đỡ Việt Cộng nên còn đậm ảnh hưởng phong cách cộng sản Pháp, tổng bí thư hạ cố bút chiến với luật sư ngoài đảng hay mấy vị cầm đầu đảng chỉ đọc tiếng Pháp, không đọc được tiếng Nga và tiếng Hoa.)
Cùng một phong trào chính trị rộng khắp đang được phản ánh lên báo: “cả nước lập công chuẩn bị chúc mừng Đại nguyên soái Stalin Người Cha của các dân tộc, thượng thọ bảy chục. Kẻ vừa đến nương bên bóng tổng bí thư là tôi ngỡ như mình đang được hưởng ké một vầng hào quang rất đỗi tự hào.
Năm chục năm sau, một hôm tôi hỏi Quang Đạm ấn tượng của anh về tôi hồi tôi mới đến báo đảng. Anh đấm tôi một cái:
- Nhóc!
Nhóc - chưa 19 mà -- đã không chút sợ sệt khi bữa đầu bước vào dẫy lán vắng tanh và lành lạnh đặt bị cói xuống một sàn nứa lởm xởm mốc trắng như một cái lưỡi bệnh đầy tưa, những cái tưa sẽ quấn kín lấy người mình sau một đêm nếu mình không cựa quậy. Lại hơi rờn rợn với rừng kín mít bao quanh. Với ngọn Núi Hồng mà những đêm đại hàn, sương tràn về như lũ sền sệt, cuồn cuộn chảy từ một con đập không thấy đỉnh ở tít đen ngòm trên kia. Tôi thích thấy nó là khói hương từ hậu cung thượng ngàn thả xuống. Vô thức tôi đã thánh cung hoá an toàn khu.
Thử thách đầu tiên đến vào tối tiếp xúc Trường Chinh, Tổng bí thư và Chủ nhiệm báo. Tối ấy sương Núi Hồng giấu kín mãi Trường Chinh cho tới khi anh chợt hiện ra ở trước mặt. Lên sau tôi ít bữa nhưng nhiều tuổi hơn, một cán bộ Thái Bình được hỏi trước. - Dạ, em người Thái Bình..., em lên làm văn thư...
Tôi thấp thỏm có được tổng bí thư hạ cố bắt tay hỏi không. Nhưng vướng víu nhất lúc ấy lại là tôi sẽ xưng hô bằng gì. Một cảm giác bứt rứt gần như xui tôi lỉnh.
Trường Chinh tươi cười quay sang tôi:
- Vậy anh tre trẻ này là lính mới báo ta chứ?
- Vâng, tôi lên làm phóng viên báo Sự Thật (đúng như nghị quyết điều động của Trưởng ban đảng vụ Lê Văn Lương đánh máy trên giấy bản mỏng tanh nhưng dai. Năm 1951, “đảng vụ” (gọi theo cộng sản Pháp chưa cướp chính quyền) mới đổi thành “tổ chức” (gọi theo Liên Xô đã có chính quyền và thành trung ương của phong trào cộng sản quốc tế.)
Một ánh ngạc nhiên và thú vị trong mắt Trường Chinh. Bởi vẻ cưa đứt đục khoát và cái chữ “tôi” anh ít nghe thấy ở những cái miệng còn hơi sữa chăng?
Thử thách đầu này vượt tốt. Thử thách thứ hai hơi bị yếu. Sắp kỷ niệm ngày sinh Hồ Chí Minh, báo có bài xã luận “Nhân ngày sinh nhật của Hồ Chủ Tịch -- Phải tăng cường đoàn kết hơn nữa” của Trưởng ban tuyên truyền trung ương Lê Quang Đạo viết. Tôi mang bài báo sang trường Nguyễn Ái Quốc cho Trường Chinh đang lên lớp ở đó duyệt. Anh bảo tôi mệt, anh đọc tôi nghe. Tôi đọc. Được chừng mười dòng, anh bảo tôi đọc lại từ đầu. Từ surtitre (tựa phụ). Anh có biết là gì không Tôi đáp là biết. Rồi đọc đầu đề phụ Nhân ngày sinh nhật Hồ Chủ tịch...
Trường Chinh giơ tay bảo ngừng. Rút chiếc Parker 51 ra,anh đưa tôi bảo chữa đi.” Thấy cần chữa đâu cứ chữa.”
Tôi ngồi đực nhìn mãi công trình nghệ thuật là cái nắp bút mạ vàng 18 ca ra. Quá sức tưởng tượng. Viết bằng bút Tổng bí thư! Rồi Tổng bí thư bảo chữa bài Trưởng ban tuyên truyền trung ương viết! Mặc dù trưởng ban ghé ngủ đêm ở báo thường đòi nằm chung với tôi rồi sờ sờ, lần lần. Tôi huých gỡ ra thì cười: “Thông cảm, bọn tớ ở tù nó thành ra mất nết như thế rồi!”
Tất nhiên tôi không chiếu cố tù cách mạng khoản này được.
- Làm báo phải mạnh dạn phát hiện vấn đề, đề xuất ý kiến
- Trường Chinh nói. Anh thấy gì ở câu này không?
Tôi vẫn im lặng thì nói: - Sinh nhật là gì?
- Sinh nhật là ngày sinh.
Và thế là thông nguồn, tôi nói tiếp luôn: - Chữa lại thành nhân sinh nhật.
- Đúng! Có thể thay vào đó nào nhân dịp mừng ngày sinh, nhân lễ sinh nhật, nhân kỷ niệm sinh nhật...
Trường Chinh cầm bút giập đi chữ “nhật” thừa rồi kéo từ đó ra ngoài lề một đường thẳng mà anh cho tận cùng bằng một con ốc sên, nói: - Chữ tắt này là chữ d của chữ deleitur, tiếng La Tinh có nghĩa là xoá.
Cái gì còn lại của bài học Tổng bí thư trực tiếp dạy tôi buổi ngu ngơ nhập môn cái chiều đầu hạ ngai ngái mùi rừng mới bắt nắng ấy? Tinh thần không sùng bái, tinh thần được nhìn, phê phán, xây dựng y như Tổng bí thư. Dưới ánh sáng của dấu hiệu deleitur. Phủ định, xóa bỏ. Mà nay trẻ con chúng dùng không biết bao nhiêu lần trên máy tính.
Thử thách thứ ba là bài báo đầu tiên. Lúc ấy vừa có cuộc bầu cử hội đồng nhân dân xã xong. Trường Chinh nói báo phải có bài “tươi mát,” tức là có chất văn học, thuật lại sự kiện này. Thép Mới, cây bút ký sự văn học đi Khu 3, tôi bị nhót ra thế mạng.
Không biết bầu cử cụ thể nào, tôi bịa. Nhưng bài báo đặc biệt sinh động, chân thực. Có cả cô gái Tày reo a lúi! trên đầu đẳng nhà sàn. Với tôi lúc ấy a lúi (ớ kìa) là thán ngữ đáng yêu nhất. Ai nói a lúi đều là con gái mặt hoa da ngọc.
Sau đó, Trường Chinh bảo cần một bài về tình quân dân. Lại tôi. Tôi dựng ra một vùng chiêm trũng giáp vùng địch bị lụt, mùa màng ngập trắng, lúa sắp mọc mầm. Thì bộ đội về. Kỳ tích xuất hiện. Trắng đồng, sạch đồn..
Họp điểm báo hàng tuần, Trường Chinh khen tôi viết lôi cuốn. Nhưng tôi dùng sai chữ: phổng phao lại viết thành phổng phang.
Tôi cãi: - Địa phương ấy nói thế.
- Viện đến tiếng địa phương thì hết bàn rồi... - Trường Chinh nói.
Chắc anh đã thấy cái sừng dê cỏn trên trán tôi.
Tôi liền rất xấu hổ. Nhận ra sai nhưng không có gan nhận.
Từ Khu ba, mẹ tôi gửi một thư lên. Không tem, nằm trong bị cói giao liên đêm đêm vuợt đường 5, đường 6 khát máu.
“Mẹ rất yêu cái tên Trần Đĩnh cộc. Con được vinh dự ở bên các vì sao sáng, con phải chịu khó, ngoan, vâng lời. Mẹ cấm hút thuốc lá. Buồn mồm vào rừng bứt lá mà nhấm, nghe không? Kèm một tấm ảnh đề ở lưng: “Xa xôi trăm dặm mẹ gửi lòng yêu thương của mẹ và các em vào bức ảnh này. Ban tặng Trần Đĩnh.”
Tôi nặng lời dặn đầu. Nhẹ lời sau. Thuốc lá mán dầy cộp và nhơm nhớp nhựa tôi quấn hai ba lá thành một điếu xì gà gộc dài hai chục phân tây còn nguyên các cánh hoa cỏ, những cánh hoa li ti trắng như những mã số khói loằng ngoằng một loài chim mật ghi tri thức tông truyền mà tôi nuốt trộm. Còn những “vì sao sáng” thành hết Nam Tào, Bắc Đẩu và tôi thì sẵn sàng hy sinh mình cho các ánh sáng thiêng liêng đó. Đôi khi dựng ra những kịch bản ảo rất hiểm nghèo để tập xả thân..
Một nếp quen gần thành kỷ luật của thời họat động chui lủi là mỗi người một bí danh. Cái bí danh hết sức hấp dẫn, ai cũng loay hoay cả tháng kén tìm cho mình một cái: nó cho anh một vận hội mới, nó cho ta sang trang, đổi đời thay phận cơ mà.
Chả hiểu sao tôi dứt khóat không bí bầu gì cho mình cái danh nào cả. Tuy đôi khi cảm thấy bên sườn trống chếnh thật!
Dạo đó ở Atêka, an toàn khu không nói tới giai cấp với chủ nghĩa xã hội.” Giấc ngủ mười năm” của Cụ Hồ mượn tên Trần Lực chỉ viết đến kháng chiến thắng lợi và đất nước hạnh phúc chung chung. Ai rồ mà lại nói chủ nghĩa xã hội, cải cách ruộng đất, thủ tiêu giai cấp? Để cho dân bỏ vào tề hết à? Về danh nghĩa Ðảng đã giải tán, hoạt động trong bóng tối che chắn của chính quyền do đảng nắm chặt. Nội san của đảng cũng chỉ nói đến “tổ chức” hay “đoàn thể” và người ta đã đăng lên đó một chuyện vui: khi tuyên thệ trước ảnh Mác, Ăng - ghen, Lê-nin, Xít, “hội viên” bần cố nông vừa thôi chui “cổng mù” và mới được “đoàn thể” kết nạp đã “bẩm thưa mấy ông Tây rậm râu!”
Có thể nói lúc đó, Atêka chưa gò ép dữ. Mà còn cho tôi hưởng một không khí dân chủ, thoải mái nhất định.
Dạy triết cho anh em quanh văn phòng trung ương, gồm cả báo đảng, đến quy luật lượng đổi chất đổi, Trường Chinh giải thích bằng cái thực tiễn dễ bập nhất vào đầu, cái thực tiễn đang quá ư khan hiếm và là mơ ước rộn rạo của hầu hết. Tức là giao hợp. Những cái nhún nhảy vào ra (nhiều anh em ở đây chưa có vợ nhưng có thể tưởng tượng ra, cái này không phải học mà). Trường Chinh rào trước, ấy là số lượng, số lượng nhiều đến mức nào thì người khoái rủn tỉ lên và lúc ấy là chất đổi. Mọi người cười rầm. Ngỡ chữ “rủn tỉ” chỉ kẻ phàm mới nói. Riêng cái cười Trường Chinh lúc ấy còn ngụ thêm ý:này, đừng tưởng tôi kém cạnh đâu đấy nhé. Chả lẽ tôi lại kê khai ra?
Đám cưới Võ, người cần vụ Trường Chinh, tôi dự đến trót cho tới khi Trường Chinh bảo hai vợ chồng mới cưới về. “Này, tôi bảo về nhưng mà giữ sức khỏe đấy nhá!” Cười thú vị xong quay lại bảo tôi, khách còn lại cuối cùng ở “phòng khách” nhà anh: Thì cũng dặn sách vở giáo điều thế thôi chứ tôi ấy à, mai bà Minh đây (chỉ vào vợ) đẻ tối nay tôi vẫn jusqu’ au bout, -đến cùng” (giơ ngón tay trỏ lên bấm vào gốc làm chừng.) Trường Chinh kể một chuyện khiến tôi cảm thêm anh. Pháp đánh vào căn cứ địa chân Núi Hồng, giữa lúc Trường Chinh ở Bắc Cạn bị Pháp nhảy dù và anh đã bị kẹt trong một hầm “tăng sê” có mái ở giữa thị xã đầy lính Pháp. Lính đã đứng ở miệng hầm gọi xuống: “Ra đi, các quan trông thấy cả rồi...” Trường Chinh bảo hai mẹ con một bà cùng nấp ở dưới hầm: “Bà ra là chúng hiếp cả hai mẹ con rồi giết...” Anh đã cho hết giấy tờ trong người nhai nát rồi nuốt, chuẩn bị hô hai khẩu hiệu: Việt Nam độc lập muôn năm! Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm. (Lúc ấy chưa phú quý nên chưa có lệ lễ nghĩa hô Hồ Chủ Tịch muôn năm!) Đợi đêm tối Trường Chinh xuyên rừng mò về chân Núi Hồng thì Trung ương đã dạt cả sang Bắc Sơn - Đình Cả. Pháp theo sát nút. Linh hồn của kháng chiến thoát trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng con chó béc- giê thuộc Tiểu đoàn 51 tiền thân Trung đoàn Thủ đô, con nuôi báo Sự Thật tặng Cụ Hồ đã bị hổ vồ.
Trong khi trên đường sang Bắc Sơn, nơi đã được Văn Cao cho sắc chàm pha màu gió, buồn tình, bọn Phan Kế An bắn súng cao su phá tổ ong rừng và cả đoàn của Thường vụ Trung ương chạy Tây liền bị ong rừng đuổi đánh. Lê Văn Lương - trưởng ban đảng vụ kiêm công việc như thường trực Ban bí thư bây giờ - chui đầu vào một bao tải thoát nạn phần nào. Hoàng Quốc Vỉệt bị nặng nhất. Ông cứ vừa thúc ngựa tế vừa tế đứa nào mất dạy, vô kỷ luật... và ong theo luồng gió hút cứ nhè ông. (Sử sách xưa chép chuyện quân khởi nghĩa Lam Sơn chạy trốn phải rúc vào bụi rậm, quân Minh lao dáo theo chứ nay sử cách mạng cấm ghi mặt trái của chiến thắng...)
Qua trận ong, Thường vụ Trung ương đảng vừa sang tới Bắc Sơn thì Pháp nhảy dù tại trận và đổ quân từ Lạng Sơn
xuống. Thường vụ lại vội lui giật trở về chân Núi Hồng.
Thời gian này, Cụ Hồ gọn nhẹ ra đi cấp tốc, bỏ rơi đại tá hàng binh Đức, Nguyễn Dân được lệnh hộ tống Cụ. Tiểu đoàn trưởng Vũ Lăng ở dưới quyền chỉ huy của viên đại tá nước ngoài này. Thời ấy ý thức “vô sản một nhà” còn mạnh nên hàng binh được phong đại tá và giao trọng trách phò Chủ tịch nước chạy giặc.
Thoát hiểm ở Bắc Cạn về, vừa hay gặp lại Trung ương dạt sang Bắc Sơn quay lui, Trường Chinh ngồi ngay ở bên đường(đầy vết giày đinh Pháp) suy nghĩ. Địch vây lùng như nhìn thấy mọi ngả tung toé chạy giặc của đầu não kháng chiến. Tình hình quá nước sôi lửa bỏng. Nhưng đám Thép Mới, Phạm Văn Khoa, Triện Triệu... vẫn cứ đùa tán ầm ầm. Trường Chinh nghiêm giọng gọi Thép Mới đến: - Anh Hồng, thích vui vẻ trẻ trung thì anh có thể về Hà Nội!
Thép Mới nghiêm mặt đáp: - Thưa anh, tôi nghĩ làm cách mạng thì dù tình huống nào ta cũng phải lạc quan vui vẻ chứ anh?
Trường Chinh lặng một lát rồi nói: - Anh nói đúng nhưng tôi đang cần yên tĩnh, các anh giúp tôi ra xa ngoài kia tán có được không?
Tổng bí thư bớt không gian tư duy chính trị để chia cho cấp dưới không gian du hí. Lúc ấy chế độ trứng nước, người hiếm của kiệm, ngày mai vẫn là ẩn số lớn, lợi ích vật chất không hơn thua nhau mấy, lương lậu chưa có, cơm ăn áo mặc cơ bản bình đẳng, đảng chưa thể ngoài điều lệ lại giấm ớt phụ gia 19 điều cấm với đảng viên. (Và qua việc đảng viên vui nhận 19 khoản cấm đoán vô lý, đủ thấy lợi đã đến với đảng viên lớn tới mức nào.)
Tấm áo sang nhất lúc đó ở căn cứ địa là hai chiếc blu - dông Mỹ bằng gabácđin, chiến lợi phẩm Trung đoàn Thủ đô biếu Cụ Hồ và Trường Chinh. Cụ còn có khoản rượu thuốc do Lang Bách, cũng lão thành cách mạng, bạn thân của Kỳ Vân, dưới trướng Nguyễn Lương Bằng pha chế. Lang Bách mang rượu đến tiến Cụ thường hay qua tòa soạn báo Sự Thật tán gẫu. Có khi còn hỏi: “Có cậu nào muốn thử không, tớ sớt cho một tí? Một chén thôi là có thể bỏ cơm cả ngày!” Không anh nào dám sớt lấy một ít rượu thiêng.
Cho đến đầu năm 1949 Atêka vẫn chưa có bệnh viện. Trường Chinh đi công việc qua Đại Từ thường mua thuốc chống sốt rét quinacrin dân tản cư bán lẻ trên mẹt ở bên đường rồi về trao cho văn phòng trung ương phát cho người ốm.
Phải nói đến một thiết chế rất đặc biệt: “Nhà hạnh phúc,” một hai gian nhà dành riêng cho người ở cơ quan tiếp vợ hay chồng ở nơi khác đến.
Nhà hạnh phúc ra đời có lẽ là nhờ Trường Chinh. Một hôm anh lắc đầu nói với chúng tôi: “Ai lại anh Dương Đức Hiền, Tổng thư ký đảng Dân Chủ đến thăm vợ ở Phụ Vận (đảng đòan Hội phụ nữ) mà phải đưa nhau ra rừng, một cụ phụ lão bắt gặp cứ kêu khắp bản lên là ôi thương tụi cán bộ quá, đè nhau ở lưng đồi thế kia. Nghe đâu anh Hiền lại còn ngóc đầu “chào cụ!” nữa chứ, cho đúng kỷ luật dân vận đi thưa gặp chào! Vì thế “Nhà hạnh phúc” bèn xuất hiện.
Một dạo chúng tôi ở Đồi A1, chung với ban kỉểm tra của Trần Đăng Ninh và ban kinh tài của Nguyễn Lương Bằng. Tắm giếng, giỡn nhau cách tôi năm mét, Ninh hay bóp vú Sao Đỏ rồi kêu: “Béo nhỉ! Lấy vợ không? Thôi, lấy đi, nằm với vợ mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát.”
Một sáng mưa, trên đỉnh đồi nhìn xuống bếp dưới chân đồi, chúng tôi thấy Dương Đức Hiền đang ngồi xổm sưởi bèn vội xuống mời lên nhưng Hiền từ chối. Hôm ấy có việc thỉnh thị Trường Chinh, anh ghé bếp báo đảng lánh mưa. Tổng bí thư Đảng Cộng Sản trao việc cho Tổng thư ký Đảng Dân Chủ còn lương thì tài vụ của Nguyễn Lương Bằng cấp. Cấp cả văn phòng phẩm - bao nhiêu giấy, mấy ngòi bút sắt, bút chì… Chả ai thấy Đảng Dân Chủ là chuyện cây kiểng sất cả.
Thép Mới nổi tiếng ở Atêka về phương châm anh tự đặt ra để răn mình: “mù, què, câm, điếc.” Cưỡng lại kỷ luật đang bắt đầu đi vào nề nếp sau khi cuốn “Bàn về tu dưỡng của người cộng sản” của Lưu Thiếu Kỳ được dịch và học tập rộng rãi. Quyển tu dưỡng đảng viên này dạy đảng viên tuyệt đối trung thành với đảng cùng gìn giữ kỷ luật, tóm lại hãy quên cá nhân đi. Tôi nhớ nhất chuyện một số người hỏi Lê-nin vào Đảng Xã Hội Dân Chủ Nga của Plékhanov rồi phá nó để lập Đảng Cộng sản Bon - sơ - vích thì có là chống đảng không, Lưu Thiếu Kỳ giải thích: không, bởi đó là Lê-nin còn anh thì chống đảng vì không là Lê-nin!
Một sáng sớm, Thép Mới và tôi, đứa chai rượu, đứa chai tương (tuột mất nút lá chuối, tôi phải bịt bằng ngón tay cái) đi đến một quán thịt chó trên đường sang Bộ tổng tư lệnh. Chợt có tiếng vó ngựa trước mặt. Thép Mới đánh nhoáng đã rúc vào bụi mua ven đường đầy sương long lanh. Một người cưỡi ngựa đi tới, mắt đen quăng quắc nhìn tôi đứng đực ngó lại ông vì tôi mải để ý đến bộ ria mép chải chuốt đen ánh, hệt một vật trang sức trên mặt. Ngựa khuất, Thép Mới ở trong bụi mua chui ra: - Xừ Hoàng Quốc Việt… Tổ sư chụp mũ. Hắc lắm. Tao gọi cái điếu cày là ba - dô - ca mà xừ đến đâu cũng đem ra nhiếc: Giai cấp công nhân đổ máu với nước mắt ra mới chế được thứ vũ khí lợi hại thế mà có người ví là cái điếu cày!
Lúc ấy tôi mới thấy ở đầu bản phía trước trắng muốt nguy nga một cây mai đang rộ hoa. Màu mai trắng ngỡ như đang bọc kín lấy cái bản này vào trong một vùng khí riêng thuần khiết. Chợt nghĩ dân bản này chắc phải là nghệ sĩ hết. Mới biết dựng lên bản kỳ, cây cờ của bản, quá đẹp này.
* * *
Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: “À, cái Z tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy Z. đến nữa.” chắc máy Cụ yếu!” , giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ.
Hồi đó, nhiều cộng tác viên tên tuổi như Nguyễn Khánh Toàn, Trần Văn Giàu, Xuân Thủy, chủ nhiệm báo Cứu quốc v.v. hay lui tới Sự Thật. Cái tiền sảnh kề bên Tổng bí thư này là nơi các vị được nói năng thoải mái nhất, không sợ lộ bí mật, bô báo.Có mấy vị thường kể chuyện đi học ở Liên Xô.
Một hôm đi tắt về báo, qua sau dẫy chuồng xí của Văn phòng Tổng bí thư, tôi nghe thấy tiếng Lê Đạt, thư ký văn hóa văn nghệ của Trường Chinh láu táu nói rất to ở trong đó. Lát sau, tôi hỏi Đạt: - “Cao đàm khoát luận gì trong chuồng xí thế mày?” Đạt cười: - “À, ngồi cạnh ông Thận, ông ấy hỏi ý kiến về bài Trần Văn Giàu viết về nhất nguyên, nhị nguyên trong triết học ở trên báo chúng mày...”
Nên chú thích: chuồng xí là một dẫy ba ngăn có liếp nứa che chắn từ vai xuống cho nên nếu ai đó cần “lên gân” thì thường phải quay mặt đi cho người ngồi bên không thấy mình đang quá vất vả vận dụng nội lực. Ít nhất đó cũng là chỗ không dung túng cho người ta che giấu hẳn thái độ.
Đầu 1949, Trường Chinh tuyển thư ký phụ trách văn hóa văn nghệ. Lê Đạt học ở trường luật được đưa về.
Vừa tới trướng phủ, vừa nhất kiến tổng bí thư, Đạt đã liền trái ý. Để thử sức thư ký mới, Trường Chinh đưa cho Lê Đạt quyển Le culte de l’ homme của Jacques Ducour, cộng sản Pháp: - Ông này bàn về thờ phụng con người, anh đọc xong nói lại nhận xét của anh với tôi.
Hai hôm sau Đạt nói: - Thưa anh, tôi thấy không nên dùng chữ thờ phụng con người.
- Vì sao?
- Tôi cũng chưa nói được rõ nhưng có lẽ nên nói tu dưỡng, vun xới, vun trồng gì đó.
Đang cần thờ phụng con người, Trường Chinh nạp ngay kẻ lần đầu ngỏ lời đã nói trái. Qua mười năm, có kim chỉ nam, ông đánh tơi tả kẻ muốn vun trồng con người, dám nói đến nhân văn.
Lâu về sau, một lần nhắc lại chuyện này, Đạt nói: - Lúc mình chả có gì giúp nước mấy thì các ông ấy dùng. Lúc mình có nhiều cái để giúp thì các ông ấy nện.
Trở lại chuyện mấy vị lý luận sừng sỏ Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn… của đảng hay tạt Sự Thật tán. Cán bộ nói chung thường độc thân, vấn đề sinh lý nổi lên ám ảnh.
Một bữa một vị (cho miễn nói tên) nói chuyện khi học ở Liên Xô cua gái Liên Xô thế nào. Này, tóc màu gì thì lông ở chỗ ấy cũng mầu ấy, thế chứ, có đứa như nghịch đem cả một cái mai cua bể luộc đỏ au úp vào... Rồi lại nói Ông Bác chỉ tìm nạ dòng. “Sao lại thế?” Thấy bác dại, chúng tôi kêu lên. Thì được giải thích: “Thế là Bác khôn, nạ dòng thì đỡ rầy rà hậu sự ...”
Nhiều vị thèm lấy vợ bé. Nêu cả danh tính các đối tượng trong mơ ra.
Rồi kể tiếu lâm. Những chuyện làm giậm giật hết chân tay đã thành một mục giải trí công cộng. Hội nghị hễ nghỉ giải lao lại tán chuyện tiếu lâm. Ngay tại hội trường.
Họp Quốc hội, đại biểu mắc màn ngủ liền nhau trên sạp nứa dài chừng mươi mười lăm mét, khuya Nguyễn Hữu Đang vào lầm màn linh mục T, thân sĩ kháng chiến nổi tiếng. Nguyễn Hữu Đang kêu lên: “Ối giời, thảo nào mời ra làm cố vấn tối cao. Cao quá kìa!” Linh mục cười: “Mấy hôm họp Quốc hội được 'văn hóa cao' có cá thịt vào bụng nó mới vô kỷ luật thế.”
“Văn hóa cao” nghĩa là ăn có thịt cá. Đến mức khốn nạn nào đó, cờ soái văn hóa nhảy sang cắm vào miếng thịt.
Tố Hữu một trưa dậy ra suối giặt quần đùi. Ca cẩm với Kim Lân: - Xuân Diệu nó mó máy mà tuột bu nó mất xích, mệt quá! Mà hai hôm nay lại cơm ăn toàn với măng.
Hai chuyện trên đây nằm trong danh mục tiếu lâm có thật. Còn một chuyện không rõ thực hư.
Năm 1950, quân chí nguyện Trung Quốc kháng Mỹ viện Triều (Triều Tiên) với tổng tư lệnh là Nguyên soái Bành Đức Hoài, tên tuổi mấy vị nguyên soái Bát Nhất bỗng nổi như cồn trong an toàn khu. Ca ngợi nức lòng, nhắc đến còn nhiều hơn Mao và Lưu Thiếu Kỳ. Chúng tôi nghe được một chuyện về Chu Đức: cái của ông dài quá xá, trên đường vạn lý trường chinh khi đại tiện, ngài cứ phải lấy tay bưng lên không thì dính bê dính bết các thứ bẩn thỉu. Đúng không? Ai biết! Mà ai ở ta có thể biết? Loại suy dần thì còn hai vị có hoạt động lâu và sâu sát với bạn là Nguyễn Sơn và Bác. Chả hiểu sao đều thiên về khả năng Bác là người phổ biến sự tích kia và thế rồi tin xái cổ...
Đến đây đã có thể rút ra kết luận rằng càng gần sự thật thì càng nhiều dân chủ và ngược lại - càng nhiều dân chủ càng gần sự thật - được chưa? Chưa đánh thông biên giới phía bắc, các cố vấn Trung Cộng chưa sang, còn phong cách dân chủ của cộng sản Pháp...
CHƯƠNG HAI
Khi
người ta còn sống thật, tôi còn được hưởng một không khí dân chủ nhất định.
(Báo l’Humanité (Nhân Đạo) cộng sản Pháp là tài liệu tham khảo đều đặn của lãnh
đạo đảng và Pháp cộng chưa nắm quyền nên còn chịu khó ve
vãn
dân chúng.) Một thí dụ: Trường Chinh đang đọc La Libération (Giải phóng) báo
Pháp. Đi qua, tôi ghé nhòm thì Trường Chinh nói: - Chốc anh bảo anh Trí đưa cho
mượn. Có bài này hay, nên xem…
Một
tối trình bày xong ma - két số báo mới, tôi mang cho Trường Chinh duyệt. Xem
một lượt, Trường Chinh chợt cau mày gắt: - Anh học cách làm của báo tư sản lúc
nào đây? Tên Sự Thật xưa nay đã có chỗ của nó ở trên đầu cùng trang nhất. Cớ gì
anh lại cho trán tụt xuống cằm còn cằm thì nhảy lên trán? Không cần câu khách
bằng kiểu tư sản uốn éo này... Cho tôi cái bút!
Thư
ký Trí đang cười cười ở đằng sau Trường Chinh thoắt đã biến mất. Tôi chạy đi
tìm bút. Trường Chinh nói: - Anh đến làm việc với tôi mà không có bút bên người
sao? Yên chí anh đã làm là đúng ư?
Đó
là lần tôi bị cọ dữ. Nhớ nữa cũng là vì tối ấy Văn phòng Tổng bí thư Trung ương
bắt đầu có điện máy nổ. Nhìn cái bóng đèn 30 bu - gi chụp bằng bìa cứng hình
cái phễu cắt loe ra thành răng cưa ở đầu cùng chiếu sáng được khoảng hai mét
xung quanh, tôi cứ đinh ninh nó được mua ở An Po ,
bến tàu điện đầu đường Nguyễn Thái Học, chốn nô đùa của lũ trẻ con học sinh
chúng tôi chờ xe điện đến trường chạy bom Mỹ vào Ba La Bông Đỏ ngày xưa.
1951,
đi thực tế một năm ở huyện Lâm Thao, tôi thư cho Trường Chinh nói ở xã Văn Lung
có một cha cố “rất hay “thì anh viết thư trả lời nói tôi nên tìm hiểu xem ông
ấy có thực hiện tốt giảm tô giảm tức hay không và lời nhắc nhở này đã làm cho
tôi khá ngượng. Mao Chủ tịch bắt đầu “nhắc Bác vấn đề lập trường” - chúng tôi
nghe xì xào - mà anh và Cụ Hồ đã vi phạm khi chủ trương đoàn kết cả với địa chủ
để đánh Pháp đuổi Nhật...
Một
hôm Nguyễn Lương Bằng phàn nàn Tuấn, thư ký kinh tài của Trường Chinh đến hội
nghị kinh tài Nguyễn Lương Bằng chủ trì đã lên nói “Tổng bí thư bận không đến
được, tôi xin thay mặt có mấy ý kiến với hội nghị như sau...” Lát sau Trường
Chinh cười bảo chúng tôi: - Thanh niên thì hay tếu ấy
mà…
Có
thể nói Trường Chinh là thần tượng của tôi. Song một người - nghe đâu có họ với
Trường Chinh - cũng ảnh hưởng rất mạnh đến tôi. Ấy là Kỳ Vân, tức Đông Thọt,
hay Nhân Chính, bút danh trên Sự Thật, người không biết một húy kỵ nào. Mày tao
tớ hắn với hầu hết mọi người. Vô cùng thoải mái, hồn nhiên.
Nhà
giàu, Kỳ Vân chuyên bị Nguyễn Lương Bằng bảo mua súng. Mua được năm khẩu súng
trường rồi Kỳ Vân từ chối. (“Cứ nã khống tiền tớ!”) Bằng bèn đưa tìền để Kỳ Vân
mua năm khẩu pặc hoọc. Lính Tưởng (Giới Thạch) bán súng mời anh nhậu say rồi
tráo súng giả. Bằng đòi kỷ luật, anh bảo anh
đền
tiền. Bằng bảo không lấy tiền, mà đòi kỷ luật nên đầu kháng chiến chống Pháp,
Kỳ Vân đi trông một nông trường bò của Nguyễn Lương Bằng ở Đô Lương. Nhân viên
làm chết mất cả mấy trăm con, Sao Đỏ (bí danh của Nguyễn Lương Bằng) lại phạt,
điều anh về sửa mo - rát ở nhà in báo đảng, tài sản Nguyễn Lương Bằng quản.
Trường Chinh qua thăm nhà in lập Ủy ban xí nghiệp, comité d’ entreprise, theo
kinh nghiệm cộng sản Pháp - tôi phải viết tin này - gặp anh, đã kéo anh về tòa
soạn viết lý luận.
Một
xẩm tối, tôi rủ Kỳ Vân sang Ban tuyên truyền trung ương liên hoan. Gần tới đầu
bản, anh hỏi thằng nào trưởng ban. Tôi nói Lê Quang Đạo. Anh nhíu mày, lẩm bẩm,
“Đạo nào nhỉ? Có thằng nào tên là Lê Quang Đạo đâu chứ?” Tới nơi, tôi bị đám
trẻ kéo đi hỏi có tiết mục gì góp vui không thì thấy
tiếng
Kỳ Vân gọi rất to: - Trần Đĩnh..., Trần Đĩnh..., này. Trở lại. Thấy Lê Quang
Đạo đang rúc đầu vào bụng Kỳ Vân, hai tay ôm quàng người Kỳ Vân và cả hai cười
ha hả. Kỳ Vân vỗ vai Đạo bảo tôi: - Tưởng thằng nào..., thằng Nguyện này tớ kết
nạp vào đảng.
Hình
như kết nạp đầu tiên Thân Mỡ, bí thư đầu tiên của Đình Bảng khi Kỳ Vân bí thư
Bắc Ninh, Bắc Giang rồi Thân Mỡ kết nạp Đạo và một lứa trẻ tuổi sau đó lập nên
chi bộ đầu tiên ở Đình Bảng. Tự tử chết khi tổng kết tư tưởng ở lớp học Mác - Lê
Bắc Kinh, Thân bị khai trừ, không còn là người lập chi bộ đầu tiên ở Đình Bảng
nữa. Người gieo hạt Kỳ Vân, sau này mắc vụ “xét lại” cũng thế.
Nguyên
Hồng, Kim Lân, Như Phong, Nguyễn Địch Dũng đều rất phục Kỳ Vân. Rải truyền đơn
giữa phiên chợ Dầu, Phù Lưu. Thong thả đi, thong thả ném... Một lần Kỳ Vân vào
Phù Lưu trở ra, bị một cảnh sát nghi có thuốc phiện lậu, nó túm lấy cặp anh đòi
khám. Trong cặp có súng, Kỳ Vân vội móc
súng
ra quăng đi nhưng không được. Quan phủ Từ Sơn biết là cộng sản lớn bèn đích
thân lấy xe hơi giải anh về Hà Nội, Giữa chừng, đến quãng gần Chùa Dận có đầm
sâu bên đường, Kỳ Vân ngoặc hai tay bị còng vào bánh lái giật. Xe lao xuống
đầm. Có cơ thoát nhưng không may, Kỳ Vân bị cánh cửa xe đập vỡ xương hông,
không chạy được. Kỳ Vân có tên Đông Thọt từ đấy. Mật thám tra hỏi chiến khu ở
đâu, anh đáp ở Lục Nam .
Giải đi đến chiến khu. Tìm cả ngày không ra, liền đánh lộn mề gà lăn lóc. Đi tù
Sơn La, cố nhiên sau những trận đòn xăng tan ghê hồn.
Có
thể nói Kỳ Vân là người đầu tiên giải kịch tính, giải huyền thoại cho các hoạt
động cách mạng. Những tối Kỳ Vân kể chuyện hoạt động hải ngoại cùng Phạm Văn
Đồng, Hoàng Quốc Việt, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần..., chúng tôi cười tưởng
đổ nhà sàn. Không thần bí hóa, không anh hùng hóa, không bi tráng hóa, anh cho
chuyện của anh diễn ra như ngẫu nhiên và buồn cười. Chả nhân vật nào là thần
tượng được qua mắt anh.
Tù
ở Sơn La quá đông, Pháp giãn một số trong có Kỳ Vân về căng Bá Vân, Thái
Nguyên. Đến đây, phớt lờ chi bộ, anh vượt ngục về Hải Phòng, sống ở Lạch Tray -
mẹ anh có hàng dẫy nhà ở Hải Phòng và nhiều ruộng ở Kiến An - dặn mẹ ai hỏi thì
bảo anh vẫn bị tù.” Vì sao?” Mẹ hỏi.” Vì không thì người ta giết con.” , “Ai
giết?.” “Các đồng chí của con… Con tự ý trốn tù mà...” (Tôi hỏi ngay: - Biết
thế sao còn trốn? Kỳ Vân cười: - Thế triệt để tôn trọng pháp luật Tây mới là
cách mạng à? Có thể trốn thì cứ trốn chứ. Cách mạng cần người hay cần tù?)
Được
ít lâu, bà mẹ tìm nói có người tên là Tự nhiều lần đến khẩn khoản xin gặp anh
Đông, có chuyện rất cần. Nhận ra là Hoàng Quốc Việt, Kỳ Vân bèn gặp. Theo lệnh
Trung ương, Việt tìm Kỳ Vân để bảo Kỳ Vân biết cùng sang Hoa Nam tham gia đại hội thành lập Việt Nam
độc lập đồng minh hội do Quốc Dân Đảng Tưởng (Giới Thach) triệu tập cuối năm
1942. Họ muốn thống nhất các tổ chức chính trị Việt Nam
ở Hoa Nam
lại để đánh Nhật ở trong nước và cung cấp tình báo cho họ. Tàu Tưởng bắt tù Cụ
Hồ chỉ cốt để báo cho biết nó chả ngọng Cụ là cộng sản, cụ muốn họat động thì
hãy chịu cuơng tỏa của nó... Nhờ tập thơ giãi bầy tâm sự trong tù với Tàu Tưởng
tôi đây yêu nước chứ không cộng sản rồi nhờ có thêm người - như Hồ Học Lãm nói
với Trương Phát Khuê, Cụ đã được ra tù và cùng với Nguyễn Hải Thần lãnh đạo
Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội. Hoàng Quốc Việt và Kỳ Vân sang Hoa Nam Trung Quốc
vì thế. Sau đó Kỳ Vân ở lại Hoa Nam .
Đến Đại hội Tân Trào tháng 8 năm 1945, anh về họp với tư cách đại biểu cách
mạng hải ngoại. Hay lỡm chuyện cách mạng - thường nhiều ngẫu nhiên ăn may và đã
ăn may mà nên chuyện lớn kiểu như Trạng Lợn thì dễ buồn cười - Kỳ Vân cứ đảng
viên quèn hoài.
Một
chuyện nghe anh kể mà tôi rất phân vân. Lúc đó ở Sơn La giam mấy chục lính khố
đỏ ủng hộ Trần Trung Lập theo Nhật nổ súng chống lại Pháp khi Nhật tiến công
vào Lạng Sơn cuối 1940. Thua, Pháp đành ngừng việc Đồng Minh chuyển vũ khí,
trang bị cho Tưởng qua đường Hải Phòng - Vân Nam cũng như để Nhật đóng vài trăm
quân trên mạn bắc sông Hồng và ở cảng Hải Phòng. Đổi lại, Nhật trả tù binh gồm
cả những lính khố đỏ này cho Pháp. Ở nhà tù Sơn La, họ đặt kế hoạch vượt ngục
để sang Trung Quốc. Nắm được tin này, chi ủy cộng sản liền chủ trương báo cho
Pháp bíết, phá không cho các tổ chức quốc gia “phản động” có thêm lực lượng,
nhất là binh lính nhà nghề. Là chi ủy viên, Lê Liêm báo Kỳ Vân về quyết định
này. Ai ngờ Kỳ Vân chất vấn luôn bí thư Lê Thanh Nghị. Trong tù, kỷ luật sắt,
phổ biến vô nguyên tắc, biết vô nguyên tắc nghị quyết tối mật của chi ủy mà lại
còn chất vấn và bất bình phản đối như thế này nữa thì cầm bằng toi. Kỳ Vân thế
là lại thêm vết. Đám lính khố đỏ sau đó bị Pháp chuyển đi nhà tù khác… Vì sao
thì bố ai biết, Kỳ Vân bảo tôi. Chắc họ bị lộ.
Tôi
phục Kỳ Vân ngay thẳng nhưng không tán thành việc anh bênh lính khố đỏ!
-
Nhưng sao phải phá họ? - Anh cười hỏi vặn lại.
-
Phản động mà!
-
Phản động mà chống Pháp! Đã mắc lừa Nhật cú vừa rồi thì lẽ nào vượt ngục ra họ
lại tự đem họ nộp cho Nhật nữa? Vậy vượt ngục là để họ chống Pháp và Nhật. Còn
với ta thì lấy gì bảo họ chống ta? Hay là vì đảng phải dẹp các đảng phái quốc
gia để giành lấy độc quyền lãnh đạo? Trước khi hợp nhất, ba tổ chức cộng sản
chẳng chửi nhau là phản động và đều muốn xơi tái nhau cả đấy thôi.
Nghe
có lý nhưng tôi vẫn không thông lắm. Vẫn thấy để độc quyền lãnh đạo thì đảng
cần phải làm suy yếu tất cả các đảng phái khác. Y như trong cuộc đua xe đạp
vậy. Đối thủ ngã, anh có xuống đỡ dậy không?
Kỳ
Vân cười: - Ừ, có khi còn xuống đạp mấy cái cho gẫy xe nó nữa ấy chứ. Làm gì có
tinh thần thượng võ sportif trong chính trị, mày.
Bữa
đầu gặp Kỳ Vân, tôi lập tức mến. Chiều hôm ấy, mang bài vở đến nhà in làm số
báo tới, tôi sắp lội con suối chạy quanh chân đồi lên nhà in thì ở bờ trước mặt
một người cao cao gọi: - Trần Đĩnh?
Môi
đỏ, răng trắng, mắt long lanh, người ấy cười rất tươi nói tiếp: Thư sinh vào
đây thì chỉ là dân tòa soạn. Cậu viết được đấy. Ở nhà in mà bình văn toà soạn
“kẻ cả” thế này? Tôi hơi ngạc nhiên thì anh nói tiếp: - Văn cậu trẻ. Nhờ cái
thần. Còn cậu viết trôi, viết hoạt thì là nhờ cái khí. Thần ở con mắt nhìn. Khí
là ở luồng câu cú chuyển vần hay quan hệ sự việc móc xẩu vào nhau.
Phải
nói tôi ngẩn tò te ra. Nhưng ai lại đi hỏi cho lòi cái dốt.
Ngay
chiều hôm sau tắm suối, anh đã cho tôi hiểu hơn “thần” là thế nào. Giữa dòng
suối ở quãng phình rộng ra nổi lên một doi đất đầy lau mọc cao um tùm. Rất
nhiều chim bạc má lao vút vào trong đó rồi lại bay ra.
-
Cậu có thấy bạc má khi bay ra hình như má có bạc lên hơn không? Biết đâu bãi
lau này là mỹ viện của bạc má để vào xoa lại phấn cho má bạc thêm? Tối qua cậu
cứ giục tớ cọ đi những vết mực in trộn nhọ chảo chúng bôi vào điếu cầy mà tớ
dính phải. Cọ làm gì? Cái ánh bạc ở má con chim vừa nhờ vào mỹ viện mà đậm thêm
lên kia có khi cũng bị các giống chim khác coi là một vết nhọ. Lính Xê - nê -
ga - le (xứ Sénégal, Bắc Phi, thuộc Pháp - BT) rạch ba vạch sẹo lên má mà ta
thấy sợ thì ở họ là để làm đẹp. Với họ sẹo là yếu tố điểm trang! Đỏ môi, quầng
mắt ở phụ nữ bây giờ cũng là một thứ sẹo, sẹo làm đẹp mà thôi.
Thình
lình bức màn xưa nay che mắt tôi với thế giới vô ngôn đầy nghĩa vụt rơi xuống.
Sau này đọc các tổ sư bồ đề cấu trúc luận, tôi thường nhớ lại cái mỹ viện của
chim bạc má là cái bãi lau giữa suối kia. Má bạc hay sẹo? Hay nhọ? Nhọ hay điểm
trang? Đẹp và xấu? Ẩn ở sau tất cả các nghi vấn đó phải
chăng
là dục vọng? Dục vọng nảy ra vào thời điểm nào, nó nấp ở đâu và biến tướng ra
sao trong ta
Kỳ
Vân hay đọc sách Tàu. Trên bàn nứa của anh một cuốn sách chữ Hán mỏng. Tôi hỏi,
anh nói: - À, Mao nói về quan hệ chính trị và văn nghệ.
-
Hay không? - tôi hỏi.
-
Cha này siết văn nghệ chặt như Lê-nin. Nhưng văn cha hay. Thì Tàu nó có truyền
thống văn chương nghị luận từ Xuân Thu Chiến quốc, Lã Bất Vi còn gì. Đâu có như
ta? Ta không có văn xuôi. Toàn chỉ là đàn kêu tích tịch tình tang, ai mang công
chúa dưới hang mà về; đàn kêu tích tịch tang tề, công chúa đã về rồi lại hoá
câm..., cứ ê a vần vò cốt sao sướng lỗ nhĩ và dễ thuộc. Cái cần nói ra bèn hóa
thành thứ yếu, cái giúp người ta nhớ thì thành ra quan trọng... Không có văn
tự, phải truyền khẩu nên nghịch đảo như thế...
Chỗ
khác người ở Kỳ Vân có sức hút tôi. Tôi thích cái thao tác độc đáo tôi lờ mờ
nhận thấy trong đầu anh.
Lúc
bấy giờ ở an toàn khu, Lý Ban, phụ trách Hoa kiều vụ, giống như một nhà truyền
giáo. Cảm nhận do bản năng, tôi không thích ông. Có lẽ vì cái không khí bí ẩn
của lò luyện đan tư tưởng Mao Trạch Đông tạo dựng lên quanh nhà truyền giáo
không có chút thế tục nào. Cố nhiên tôi phải hỏi cảm
tưởng
Kỳ Vân. Kỳ Vân nói anh không rõ lắm. Lý Ban hoạt động ở Quảng Đông, vợ Tàu và
nói tiếng Việt thua Tàu phá sa Bờ Hồ. Nghe đâu, anh nói, đã quen biết tướng
Nguyễn Sơn lâu nhưng Nguyễn Sơn ghét họ Lý lắm.
Tôi
còn muốn hỏi anh chuyện Lý Ban cho Mã Phi “thịt” cô Trinh, nhân viên của Hoa
Kiều vụ, nổi tiếng đẹp và giỏi tiếng Anh, xưa làm việc tại đại sứ quán của Tưởng
ở Hà Nội. Vì đồn rằng Trinh là mật vụ của Tưởng. Nghe nói khi Mã Phi dưới trướng
Lý Ban sắp đâm thì Trinh trật vú ra “hiến “nhưng không mua được Mã Phi. Trong
khi Đ. V., cán bộ Hoa Kiều vụ, sau thành nhà văn thì yêu Trinh đã khóc thảm
thiết dịp đó. Thế là Lý Ban còn là một chánh án có bộ máy và quyền thủ tiêu
người. Rồi ông là người Việt Nam
đầu tiên sang Bắc Kinh chuẩn bị cho việc Cụ Hồ lần đầu tiên với tư cách Chủ
tịch nước sang Bắc Kinh. Chúng tôi đều coi ông là người gần gũi Bắc Kinh nhất
trong hàng ngũ cán bộ cao cấp Việt Nam , là nhân mối được Bắc Kinh tín
nhiệm. Nhưng diện mạo nhà truyền giáo bí ẩn, cao siêu của ông vẫn cứ làm tôi
không thích ông. Toan hỏi Kỳ Vân chuyện” thịt “Trinh nhưng tôi lại thôi. Hình
như an toàn khu cần một bầy những linh cẩu, kền kền lặng lẽ dọn sạch những vết
tích khả dĩ làm ô uế bầu khí quyển cần được giữ lắng trong của nó. Im không bới
chuyện, tôi đã ở trong hàng ngũ linh cẩu, kền kền.
Có
điều lúc đó tôi không biết máu “đặc vụ” đã chảy ở trong chính hàng phụ mẫu của
tôi. Và nhiều phần có vẻ dính đến Lý Ban!
Lúc
ấy đâu ngờ mấy chục năm sau, Lý Ban lại mắc tội“thân Trung Quốc!”
* * *
Nửa
thế kỷ sau, năm 2000, trong dịp mừng Lưu Động tám mươi tuổi, Hồng Sĩ bạn Kỳ
Vân, cũng tù xét lại bảo tôi: - Kỳ Vân nó yêu mày. Mày viết Bất Khuất có chi
tiết Thuận đứng đèn mấy nghìn oát mà vẫn chịu được, tớ bảo Kỳ Vân là thằng Đĩnh
nói phét. Bênh cậu, Kỳ Vân nói rằng Thuận, tức Tư Móm làm nghề thổi thông phong
cho nên chịu nóng giỏi.
Kỳ
Vân, cảm ơn anh. Tôi nói nhiều đến anh vì anh Mậu Ngọ, tôi Canh Ngọ, tôi cứ ngờ
ngợ ở tôi có đôi chút gì na ná ở anh. Đại khái quàng tay còng vào bánh lái cho
xe nhào xuống đầm, bất chấp thành bại. Nhưng có lẽ cả là vì không còn gì nữa
của anh trên cõi đời này. Các con anh, ba đứa theo nhau chết hết. Thằng Tân,
con trai út của anh, kỹ sư xe hơi ở Vũng Tàu tự tử. Hồi nào mẹ nó chết đuối ở
Hồng Châu, gần quê Đỗ Mười, nó còn bé, hai bố con anh côi cút; chị gái bé, cái
Châu, sơ tán theo đại học Bách khoa; và Thuận, em gái Thanh niên xung phong hy
sinh năm 1966 ở đường mòn, tôi thường đến ngủ với anh - không màn ở ngay đầu
cầu thang trời - để xem đêm hôm có gì thì đỡ đần hai bố con. Nay anh hết nhẵn.
Còn độc bản lý lịch đóng dấu của Ban tổ chức trung ương. Nó nhợt nhạt quá so
với con người anh, dù trong đó ghi anh bắt đầu họat động từ 1936, Mặt trận Bình
dân bên Pháp, dù
người
kết nạp anh tháng 6 - 1940 là Hoàng Văn Thụ, bí thư xứ ủy. Nó chẳng còn ý nghĩa
gì nhưng cầm đến nó tôi vẫn rưng rưng. Như được gần gũi có xúc giác với anh.
Chẳng hiểu sao Kiến Giang lại đưa nó cho tôi và tôi thì cứ nghĩ là anh muốn
thế! Giữ nó, có lúc tôi ngỡ mình là cái mỹ viện bãi lau giữa suối có thể chăm
sóc cho vết nhọ nồi quanh mép hay nét son trang điểm trên quãng đời ngắn ngủi
của anh. Những vết gông cùm, những mất mát quá phũ của anh là sẹo hay là trang
điểm?
Những
dòng viết hơi nhiều về anh ở đây chính là công việc của cái bãi lau mỹ viện săn
sóc trông nom cho ước nguyện tự do của anh.
Nhưng
hơn hết, tôi muốn cho anh hiện lên như tiêu biểu cho một lớp người không hiếm
trong đảng cộng sản. Ông nội tri phủ, ông ngọai tri huyện, bố mẹ chủ nhà đất và
ruộng nhưng anh khao khát tự do. Đọc thấy con đường mang biển dẫn tới tự do thế
là hăm hở đi vào. Rồi nhận thấy tự do này là nhằm cho lòai người do đó nó phải
giam tự do của cá nhân anh vào trong cái lồng tập thể đúc bằng kỷ luật thép
mang tên chế độ tập trung dân chủ. Thế là cả cuộc đời liền bị giằng xé giữa hai
thứ tự do đối chọi nhau vô cùng nước lửa… Để không chóng thì chầy tất nhiên đi
tới chống đảng, cái tổ chức độc quyền tất cả: bao cấp toàn bộ độc lập, tự do,
chính nghĩa, đạo đức, nhân dân, đất nước, chân lý, quy luật rồi miếng ăn, chỗ
ở, hôn nhân, ma chay, quyền sống, phận chết đã được đảng thiết kế cho mỗi hạng
người, mỗi con người.
CHƯƠNG BA
Tháng
10 - 1949, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Hơn hai tháng sau Cụ Hồ bí
mật len qua vùng địch ở Phục Hòa, Cao Bằng đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu. Trần
Đăng Ninh, Vũ Đình Huỳnh và Phạm Văn Khoa phiên dịch tiếng Trung Quốc theo cụ.
Lý Ban vốn tỉnh ủy viên Quảng Đông đi tiền trạm.
Lúc
ấy dưới trướng Lý Ban nắm Hoa kiều vụ có Tắc Vầy, Trương Đức Duy, cán sự vô
danh nhưng sau này làm đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, lời lời vào tai Hà Nội
đều nặng cân lạng vô cùng. Người đứng trên bè nứa bao giờ nom vẫn kém uy hơn
người đứng trên tàu lớn.
Bác
xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đang vô thừa nhận mà lại sắp vớ
được họ hàng toàn oách ra dáng hết. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự
cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới.
Chừng
một tháng sau, Cụ về. An toàn khu mừng mở tom -bô - la, xổ số. Tôi trúng một
bàn chải răng. Dòng chữ Three Stars - Made in Shanghai (Làm tại Thượng Hải) óng ánh kim nhũ
như soi thấu suốt lên nữa cái cán mầu san hô mà tôi cứ thấy như hành lang thu
nhỏ dẫn vào một xứ sở thần tiên vậy. Thép Mới rủ tôi gặp Phạm Văn Khoa moi
chuyện. Khoa đã được dặn cấm không hé răng. Cuối cùng trong hàng thịt chó trên
đường sang Bộ tổng tư lệnh, anh chỉ lộ ra một chuyện.
-
Chúng mày xì ra thì chết tao… Ừ, tao làm phiên dịch nhưng nhiều lúc Ông Cụ cũng
chẳng cần tao... Ông Cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân
Lai. Họ không hỉểu ta. Họp trong này, bên ngoài tao nhớ là có cái bể bơi nước
nóng bốc khói, (lúc ấy ai biết Mao có cái thú giầm mình trong bể bơi). Tao nhìn
mấy ông Mao, Lưu, Chu thấy trợn bỏ mẹ. Nhất là
Mao trắng hồng, cao lớn, trán nhẵn bóng gần như im lặng suốt buổi, hai bàn tay
khoanh lại đút vào hai ống tay áo bông. Ông Cụ nhà mình nói... Thỉnh thoảng Mao
lại dặng hắng ừ hừ hữ một cái rất to, kinh bỏ con bà, chẳng hiểu là tán thành
hay phản đối. Ông Cụ kiểm thảo xong, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, góp ý kiến. Thôi,
đủ rồi, thôi...
-
Thôi thế nào được, - hai chúng tôi cứ hai bên trái phải thi nhau huých đẩy hoa.
Chỉ khai một chuyện nữa thôi thì tha, - chúng tôi nói.
-
Nói rồi chúng mày lại cứ Khoa Tếu lộ cho chúng mày...Thôi, nói cái này thôi…
Khi đòan đến Bằng Tường, Tẫu bốc phắt luôn mỗi mình ông Bác lên xe đưa đi
trước. Mất tướng, bọn tao đi sau lo quá…
-
Làm cứ như thổ phỉ thế vậy ư? Không coi quân tướng người ta ra gì, không thèm
đếm xỉa đến đám hộ tống bảo vệ Cụ, coi như muỗi mắt à - chúng tôi cáu.
Gần
năm sau thì biết Chu Đức, Liêu Thừa Chí, Nhiếp Vinh Trăn đã xuống tận Bằng
Tường “bắt cóc” cụ Hồ đi… Nghe mấy cái tên huyền thoại, chẳng hạn Chu Đức, sướng quá.
Chúng
tôi cứ dai nhăng nhẳng ép Khoa phải nói gặp Mao đã làm những gì. Khoa xì tiếp
ra một bí mật nữa: sau khi Ông Cụ kiểm thảo, trình bày các cái ta chủ trương và
làm, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét…
-
Sao lại kiểm thảo?
-
Là một chi bộ của Quốc tế mà, không nhớ ư? Phải xin Quốc tế cho nhận xét chứ.
-
Thôi được, nhận xét sao? - Thép Mới và tôi dồn.
Khoa
nghiêm mặt, hơi sửng: - Tao chỉ nói một cái nữa thôi, nếu không tao báo cáo xừ
Lê Văn Lương là chúng mày bắt tao vi phạm kỷ luật bí mật của Bác.
Chúng
tôi đành gật đầu. Khoa nói, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét chính sách tiêu thổ kháng
chiến toàn bàn của Việt Nam
là không cần thiết và lãng phí. Vì những nơi có tính chiến lược thì dù là vùng
hoang vắng, địch cũng xây cất để đồn trú còn nơi không có tính chiến lược thì
nhà cửa nguyên vẹn địch cũng không ở...
Tôi
hơi ức. Bác báo cáo coi như kiểm điểm, thôi được, nhưng sao không phải Mao nhận
xét Bác mà lại Lưu? Rồi Trì Cửu Chiến của Mao viết ca ngợi tiêu thổ mà tại sao
Lưu lại nhận xét ta như thế. Tôi bảo Thép Mới, Thép Mới ờ hờ một lúc nói:
-
Họ cũng phải nói thế chứ chả lẽ cứ học họ là giỏi như họ rồi bình đẳng với họ
được sao? Họ muốn vạch một démarcation, tuyến phân rõ thày với trò ra mà mày.
Họ muốn nói là ta học họ nhưng tự học cho nên đã bị giáo điều. Muốn gì họ cũng
phải nắm được đằng chuôi chứ. Mèo còn không dạy hổ leo cây cơ mà.
-
Thày cái gì, chuôi cái gì? - tôi phản ứng.
-
Không thì sao lại sang ngồi kiểm điểm với họ? Có kỉểm điểm với dân, với tao,
với mày không? Nhưng vẫn hơn xưa chứ mày. Quang Trung đánh bại nó mà phải xin
nó phong cho An Nam Quốc Vương. Nay bình đẳng quá rồi chứ! Ta Dân Chủ Cộng Hoà,
họ Cộng Hoà Nhân Dân, khác nhau đấy. Khoa cho biết sau đó Mao đi Liên Xô ký kết
hiệp ước với Liên Xô đồng thời nhân dịp nói trước với Stalin việc Hồ Chí Minh
muốn được gặp.
Sau
này tài liệu chính thức của ta nói khi Cụ Hồ qua Bắc Kinh thì Mao đã đi Liên Xô
rồi. Vì sao không biết nhưng theo tôi Khoa nói đúng vì về nước mới mươi ngày
anh đã kể với chúng tôi và vì không ai có thể bịa ra chi tiết Mao “ngồi đút tay
vào ống tay áo bông mà dặng hắng ừ hừ hử hữ nghe kinh bỏ con bà” sống động như
thế được. Sau này kể cho tôi viết hồi ký,Vũ Đình Huỳnh cũng bảo có gặp Cụ Mao
nhưng khi vào họp thì Huỳnh phải ở ngòai, buồng Huỳnh ngồi trông ra một bể bơi
nước nóng có bốc khói. Lúc ấy Mao sắp sang gặp Stalin và trong nghị sự chắc sẽ
trao đổi ý kiến về công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do đó Mao phải nghe Cụ
Hồ trình bày trước.
Bây
giờ, sau khi đã nếm đủ thứ trò quỷ của cộng sản với nhau, mới hiểu Mao đi riêng
là để vạch ranh giới. Hai nước lớn chúng tôi bàn chuyện chúng tôi với nhau là
chính đã, sau đó nhân thể tôi sẽ thăm dò lo lót cho chuyện anh xin công nhận
cho anh vào phe. Chung quy cốt phân rõ tôi trên anh dưới, anh nhờ tôi giúp, kết
quả sao chờ tôi gặp Stalin đã! Còn Stalin biết Hồ Chí Minh đã ở Bắc Kinh nhưng
nhận hay tiếp tục từ chối Hồ Chí Minh thì Stalin phải bàn với Mao. Phải chăng
Mao chính là nhân tố quyết định làm cho Stalin thay đổi thái độ phủ nhận Hồ Chí
Minh?
Sau
đó nghe truyền đạt Stalin đã phân công Trung Quốc “phụ trách” Việt Nam , tôi cụt
hứng dữ.” Phụ trách” thì phải là Liên Xô chứ sao lại Trung Quốc? Tôi khó chịu
nhưng đây là chuyện ở trên tầng chót vót đầy linh thiêng thần bí của Đệ Tam
Quốc Tế cho nên không vui rồi cũng cho qua. Lúc ấy chúng tôi sao hiểu nổi đây
là món quà Stalin hối lộ Mao. Vả chăng bỏ thì thương mà vương thì chưa hết
ghét, nên ông mượn bàn tay Mao nắm giúp!
Nhưng
hệ lụy đã nằm lại sâu bền trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam : ví trí đàn
em, bên dưới, yên phận biết ơn đã thành nền móng cho một tư thế ứng xử với
Trung Quốc. Xuân Trường cho biết Bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao
quan hệ môi răng giữa Việt Nam
và Trung Quốc. Tự ái dân tộc thế là xẹp. Vai vế, tôn ti này Bác Hồ đặt ra. Yêu
Bác Hồ chả lẽ lại đi tự ái xằng với Anh Hai. Nên biết chính Bác tự nguyện nhận
mình chỉ nêu ra được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ
tịch. Được lãnh tụ ráo riết giáo dục, (điều lệ thêm câu “lấy tư tuởng Mao Trạch
Đông làm kim chỉ nam,” điện đảng gửi Ðảng Cộng sản Trung Quốc viết Đảng Lao
động Việt Nam nguyện học tập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao
Trạch Ðông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á Ðông v. v.
Từ 1951, tuần nào báo Nhân Dân cũng có vài mẩu của CB (tức Cụ Hồ) phổ biến kinh
nghiệm mọi mặt của Trung Quốc… dần dà đảng viên cộng sản Việt Nam lại tìm ra
chỗ để tự hào: được
làm
em của hai nước vĩ đại, Liên Xô anh cả, Trung Quốc anh hai. Cũng ngầm hiểu mình
là anh ba trong cả phe. Có cha nào dám vũ trang đánh đế quốc như hai ông anh và
Việt Nam
đâu? Bảo mạng, không dám hy sinh mà. Toàn do Nga giải phóng cho!
Một
năm sau, mở đại hội 2, Hồ Chủ Tịch nói: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam .” Không thích chui lủi, chúng
tôi rất sướng được ra ánh sáng và thế là quên mất câu Cụ nói ngày cho đảng rút
lui vào bóng tối: Nếu cần có đảng phái thì sẽ là ĐẢNG DÂN TỘC VIỆT NAM …
Việc
đảng ra công khai cũng gây một số thắc mắc. Bọn tôi kêu cái tên Đảng Lao Động
Việt Nam
yếu quá thì được đả thông ngay: - Ông Cụ đã thỉnh thị Stalin và Stalin bảo lấy
tên này, như Mông Cổ lấy tên là Đảng Nhân Dân Cách Mạng. Thế ra lúc Cộng sản
Đông Dương, lúc Lao động Việt Nam đều do Stalin quyết định cả… Thấm đẫm tinh
thần quốc tế nên nghe đả thông như thế lại sung sướng được lãnh tụ tối cao quan
tâm đến cho từng li từng tí. Không biết nếu quan tâm thì lãnh tụ tối cao đã ôm
lấy chứ đâu để Trung Quốc phụ trách. (Nói thêm về đả thông, tức đánh thông tư
tưởng cho khỏi thắc mắc, dao động, bế tắc, chữ đầu miệng của cán bộ đảng viên
Trung cộng mới ồ ạt nhập vào từ hội Việt cộng.) Bây giờ mới thấy Ông Cụ nhiều
phần mượn Stalin ra để đỡ phải giải thích dài dòng.
Chúng
tôi còn hậm hực quanh chữ Nhân Dân, tên mới của báo đảng. Sao không giữ Sự
Thật? như Pravda của Liên Xô,“Sự Thật mới cộng sản, Nhân Dân là kém nước!”
Không nhớ ai đó nói: - Nay Liên Xô giao Việt Nam
cho Trung Quốc phụ trách thì Việt Nam phải tỏ ra là vui vẻ chấp nhận
chứ. Lấy tên báo đảng Trung Quốc là để nói tôi sẵn sàng đi với đồng chí đây.
Chả lẽ ăn không của Trung Quốc à?
Cuối
cùng Đại sứ La Quý Ba đã trình quốc thư mà mãi vẫn không thấy đại sứ Liên Xô
đến, chúng tôi hơi lạ.
Thép
Mới bạo mồm gỉải thích: - Thông cảm mày, cha Liên Xô ở châu Âu sống sướng quen
rồi, sang ta ở rừng hắn cũng ngại…
Lúc
ấy chưa nhận hết hàm nghĩa của từ phụ trách. Đúng, thế nào là phụ trách? Là
phải ốp sát, kèm chặt ở bên! Đồng chí La có tư cách song trùng: vừa đại sứ cách
trở vừa thường xuyên đụng đầu bàn bạc ở cương vị “phụ trách.”
Có
một vị đại biểu của Quốc tế được chúng tôi cảm thấy gần gũi hơn. Đó là Léo
Figuère, ủy viên trung ương Đảng cộng sản Pháp. Là cái bóng trung thành của
Liên Xô nên cộng sản Pháp cũng đã từng lờ Việt Nam . Nay Stalin công nhận Việt Nam , cộng sản
Pháp bèn cử Léo Figuère sang tìm hiểu ngọn
nguồn
- có là cộng sản thật không hay giả mạo? - và đặt trở lại mối quan hệ đồng chí.
Yêu
cộng sản Pháp, Cụ Hồ gửi Léo mang một sợi dây chuyền vàng về tặng con gái tổng
bí thư Maurice Thorez. Ai ngờ, dây chuyền bỗng không cánh mà bay. Tin tối mật
nhưng cũng đã lọt tai mấy đứa ở báo đảng sống kề bên tổng bí thư.
Lê
Phát, đại đội trưởng chỉ huy số lính đi theo bảo vệ Cụ qua vùng Pháp đóng để
lên biên giới sang Trung Quốc cho tôi xem những bức ảnh anh chụp Cụ trong
chuyến anh có vinh dự hộ tống ấy. Đặc biệt hai ba tấm hình Cụ ngủ trưa đã làm
tôi se lòng. Cụ nằm ngửa, chân co chân duỗi nét mặt mệt mỏi. Không, có cả lo
lắng, nom bỗng như là một ai đó khác, trần trụi, cô độc. Tôi sao biết nổi tâm
trạng hết sức căng thẳng của Cụ lúc đó. Nói sao cho các ông anh đa nghi Tào
Tháo tin mình là cộng sản thật? Giải thích sao cho trôi đoạn tình báo Mỹ vào
căn cứ địa đầu não? Rồi vì sao lại đem đảng ra mà giải tán?...
Tập
an - bom này sau Lê Phát tặng Bảo Tàng Cách Mạng. Hộ tống Bác len qua vùng địch
sang đất Trung Quốc, cuối đời Lê Phát một mình trốn sang Thụy Sĩ và chết ở trời
Tây. Nhân chuyện an - bom, tôi mượn một tấm ảnh để nói lên thực tại an toàn khu
trước khi Cụ Hồ sang Trung Quốc cầu viện.
Tấm
ảnh này tôi xin một cô bạn để cho gia đình Lê Đạt nhân giỗ đầu của anh. Cầm nó
xem, tôi cứ lạ sao Đạt, trẻ nhất, lại là người mở đầu bức ảnh ở bên trái. Và
ngay cạnh anh là Cụ Hồ, hai thày trò duy nhất ngồi xổm bên nhau, cạnh năm sáu
thư ký của Trường Chinh đứng sau Tổng bí thư tư lự. Bức ảnh đập ngay vào mắt
người xem bởi vẻ hoang vu, tiều tụy:một lán nứa nhỏ ba vách nứa tuềnh tòang
không nội thất, sau đó một vạt cây cối bị đốn trơ gốc và miếng đất mới khai phá
chưa kịp xây cất nhà lán. Nhưng nổi lên hơn cả là hình ảnh Cụ Hồ và Lê Đạt. Ai
xui mà chỉ có hai người ngồi xổm? Cụ Hồ -chắc đến chỗ Trường Chinh có việc -
hốc hác đăm chiêu, Lê Đạt mặt còn hơi sữa nhưng nom thẫn thờ. Tôi không thể
không nghĩ đến hai cha con một nông dân già bán gà ế chợ chiều ủ ê bên nhau mà
đường về thì xa và nhà thì nhẵn gạo…Đặc biệt không một chút ranh giới phân chia
đẳng cấp giữa người và người. Không một bóng dáng quyền lực. Tất cả là một
khung cảnh buồn, hiu hắt, suy tàn… Mấy thành viên cuối cùng của một bộ tộc sống
trên một dẻo rừng biệt lập được National Geography chụp được. Bức ảnh với hết
không khí hiện thực ủ ê của nó cho thấy Cụ Hồ không thể không băng qua vùng
biên giới bị quân Pháp chiếm đóng để tìm Mao Trạch Đông.
* * *
Để
liền một dải với Trung Quốc, với phe, nói khác đi, để làm được tiền đồn của
phe, để thoát cảnh một mình “chiến đấu giữa vòng vây” (chữ của Võ Nguyên Giáp)
mở Chiến dịch Biên Giới giải phóng Cao Bắc Lạng.
Tháng
8 - 1950 tôi lên Cao Bằng. Một nhóm lên đường với nhau từ Gốc Thông cửa ngõ Bộ
Tổng: Dương Bích Liên, Vũ Cao, Hoàng Nghiêm điện ảnh, Thân Nhất Đài phát thanh
và tôi. Bộ đội sang Quảng Tây học tác chiến từ mấy tháng trước trở về rầm rập
đêm ngày. Cố vấn Trung Quốc cùng với những con ngựa cao to kiểu Xích Thố chở ngất
ngưởng chăn đệm, thau chậu. Cố vấn xuống tới tiểu đoàn, trung đội. Ở tiểu đoàn
251 của Nguyễn Hữu An mà tôi xuống đó, có Lìu dính trảng, Lưu dinh trưởng, da
mịn như da đàn bà lấm tấm tàn nhang màu mã não. Có hôm Nguyễn Hữu An buột mồm
bảo tôi tên gì mà nghe lại như Húng Lìu dính chảo thế nhỉ? Thường đùa bảo cố
vấn nói một hai ba bốn tiếng Việt để ôm bụng cười vì cố vấn cứ một hai ma mốn…
Cái nọc dân tộc kỵ nhau vẫn cứ ló ra. Giữ kín đáo nhưng thỉnh thoảng đồng chí
cố vấn Húng Lìu dính chảo vẫn để lộ cho biết quân Tưởng tác chiến rất giỏi. Có
ý so với nó, quân Pháp kém xa.
Tôi
ngày ngày dự các buổi trung đội trưởng Trung Quốc dạy bộ đội ta đánh bộc phá,
đâm lê.” chú ý ngoáy cổ tay, vặn thế này, xốc lên,” anh phiên dịch nói to như
gắt.
Đoàn
báo chí, văn nghệ dự buổi Võ Nguyên Giáp phổ biến trên sa bàn kế hoạch đánh thị
xã Cao Bằng.
Tôi
còn bức ảnh chụp bữa ấy, trong đó tôi ngả người vào Nam Cao ngồi bậc cuối cầu
thang nhà sàn. Bên kia thang là Dương Bích Liên.
Đưa
ma Thâm Tâm... Một xóm nhỏ, một suối nhỏ nhảy chồm chồm trên nền đá dựng đứng,
đổ nước ầm ầm ngay ở đầu nhà như có tiếng sóng đưa Thâm Tâm qua sông, tôi nghĩ
khi len qua hẻm đá, sau cỗ áo...
Sau
đó cả lũ ôm bè nứa lần lượt qua một cái đầm rộng ven vách đá, đẹp như tranh
thủy mặc.
Tôi
và Nguyễn Địch Dũng đến trung đòan 174 của Chu
Huy Mân và Đặng Văn Việt.
Tuần
sau đánh Đông Khê, không đánh Cao Bằng như kế họach ban đầu mà Võ Nguyên Giáp
đã giới thiệu sa bàn với đám nhà báo, văn nghệ sĩ. Cố vấn Trung Quốc là đồng
chí Trần Canh nói đánh vào cổ con rắn thì nó sẽ oằn người lại và ta có cơ diệt
viện…
Xin
trở lại chuyện chiến dịch lớn đầu tiên nhưng ở đây tôi chỉ kể lại vài ấn tượng
in sâu trong tôi, kẻ lần đầu thử lửa lớn. Đánh Đông Khê, tôi đi với tiểu đoàn
251 chủ công Nguyễn Hữu An của trung đoàn 174. Tiến, người Tày là chính trị
viên.
Xẩm
tối hôm nổ súng, Nguyễn Đắc nhiếp ảnh, Dương Bích Hồng, sĩ quan địch vận, em
trai Dương Bích Liên và tôi leo vào một hang đá trên đỉnh núi (nghe nói ban
ngày Cụ Hồ đã vào đây quan sát trận địa) nhìn khắp một vùng núi non vắng lặng.
Bên dưới kia một dẻo thung lũng hẹp rất êm ả, hết sức êm ả (thấy cả vài bụi cây
còm cõi vàng vọt mà tôi chợt có ý muốn đến đó cùng xây nhà bên suối) chạy từ
phải sang trái, đầu bên phải đã chìm vào bóng chiều xẫm lại. Trước mặt mộthòn
núi đá ngỏng lên bơ vơ ở giữa lũng. Khỏi nó, qua trái, lũng bắt đầu nở ra và xa
xa dềnh lên âm u một núi mặt bàn
cao,
dài, phẳng, ma quái: Đông Khê đồn. Tiểu đoàn chủ công của Nguyễn Hữu An, D5, mà
tôi theo đã nửa tháng, đêm nay sẽ húc vào đó.
Trời
bỗng tối đi, tất cả như thụt lún xuống. Từ bìa rừng bên phải, mấy con cá lưng
đỏ đòng đọc quẫy đuôi bơi ra ở giữa lòng lũng. Lại thấy đó là những bắp chuối
rủ nhau dung dăng là là mặt đất và chúng đến đâu, đấy lìền ưng ửng đào. Nhưng
chúng đã tan vào đâu mất rất nhanh. Mà hòn núi côi cút trước mắt, đồn tiền tiêu
Cạm Phầy, mô hình phóng to của cái chầy thời đá cũ thì bỗng giẫy lên, rung rinh.
A, hòn núi cổ quái kia là đồn Cạm Phầy và đàn cá, đàn bắp chuối này là đạn 75
li đến nã vào nó, khai hỏa cho toàn trận đánh. Cạm Phầy chợt như bị một bùi
nhùi rơm khổng lồ quất vào, lửa văng tung toé. Cùng lúc súng nổ ran tứ phía.
Nhưng
hết một đêm không xong, Nguyễn Hữu An không vào nổi đồn!
Trưa
đến quân y tiền phương của trung đòan. Nghe báo cáo thành tích La Văn Cầu chặt
cụt tay khi lên đánh bộc phá bị đạn đui - xết (đạn12ly7, âm tiếng Pháp - BT).
Đưa tin luôn.
Đêm
hôm sau tôi nằm với bốn khẩu sơn pháo bắn thẳng của tiểu đòan trưởng Thành.
Thành đưa tôi một điện thoại nghe ban chỉ huy trận đánh chỉ đạo. Cho bắn bao
nhiêu viên 75 và còn hô bắn phát thứ mấy thứ mấy. Thành bảo tôi cố vấn Trung
Quốc nói mỗi viên đạn pháo giá hai lạng vàng. Nghe suốt đêm Lê Liêm chính ủy
mặt trận biên giới giục lính 251“anh dũng tiến lên, hy sinh cũng lên, không thể
để đến sáng nữa...”
Sáng
tinh mơ sau đêm thứ hai diệt được Đông Khê, tiếng súng im hẳn. Tôi đeo ba lô
lên vai toan dời đó lên đồn thì chợt hai phát đại bác trong đồn bắn ra rít lên
gần như ở ngay bên mang tai. Tôi tụt vội xuống cái hốc đất ở trước khẩu pháo
tôi vẫn núp cả đêm qua. Lầm chết người! Cái hốc ở sau khẩu pháo. Cái hốc đằng
trước nó là mép núi buông thẳng đứng xuống con suối ở dưới đó ba chục mét. Tôi
gọi to “cứu! Kéo tôi lên với!”
Sau
khi được kéo lên, tôi rời trận địa 75 li của Thành lên ngay đồn. Vừa tới khúc
quành lượn rất đẹp lên đồn - con đường rải nhựa nhẵn thín - tôi phải quay về:
bộ đội cấm. Pháp có thể nhảy dù xuống chiếm lại Đông Khê như tháng 5 trước đó.
Tối
lên đồn. Tan hoang. Lửa khói. Một lính da đen cụt chân thấy tôi, giương hai con
mắt trắng rã vì sợ, lê đít giật lùi tránh. Tôi vội phối hợp với anh ta, rẽ ngay
ngả khác. Không muốn mình làm anh ta sợ thêm. Đến một góc đồn. Có lẽ là cái mạn
bắc mà đêm qua chính ủy mặt trận Lê Liêm cứ suốt đêm điện thoại vỗ về, thúc
giục “a lô D 3, a lô D 3, cố diệt ổ đui - xết mạn bắc đồn, a lô D 3, a lô D 3,
các đồng chí cố lên...” Dốc dựng đứng. Xung quanh tối om và mây mù bồng bềnh.
Một tấm vải bạt căng lên như một cánh buồm phồng gió giữa biển và góc đồn vắng
tanh thì như mũi một con tàu trôi trên sương mù. Cạnh cánh buồm, một đống lửa
khá đượm và một lính Pháp nằm bên. Một mình. Mắt nhắm nghiền. Miệng thầm thì
không dứt gọi Maman, Mẹ..., Maman...
Điểm
nhịp cho tiếng nhẩm ôn câu đầu đời, cánh buồm ưỡn cong lên thúc trống. Phần
phật... Thình thình... Maman... Phần phật... Thình thình.. Maman...
Trong
mênh mang mờ mịt, cuộc gọi đáp giữa anh lính Pháp chạc tuổi tôi, hai chục tròn
xoe và tiếng sóng gió một chuyến hồi hương ảo khiến tôi không thể rời chân.
Càng không dám đến đặt bàn tay giả mẹ lên trán người sắp chết. Sợ phá vị trí
thiêng liêng dành riêng cho người mẹ, sợ phá vỡ giấc mơ cuối cùng có lẽ là đẹp
nhất của anh lính. Tiếng trống cúng tế hộ tống cuộc lên đường “thình thình,phần
phật” đầy ắp không gian, đưa hai âm maman uy nghi thiên di.
Mấy
hôm sau chạy trên đoạn Khau Luông, Nà Kéo, Cốc Xá đường số 4, nơi quân lính ta
và quân Charton, Lepage quần thảo giáp lá cà, tôi phải dốc lên mặt lọ Coty nước
hoa chiến lợi phẩm nhặt trong hầm viên đại uý chỉ huy đồn Đông Khê -nó nằm bên
một quả bưởi đã bóc hết cùi chưa tẽ múi, quả bưởi cứ khiến tôi nghĩ đến bóng
một người đàn bà trong căn hầm cố thủ hẹp vanh đầy gạch vữa này. Xác lính Pháp
nằm dài suốt hai vệ đường bốc mùi thối rữa. Cỏ lau mầu cốm non rạp xuống làm
thảm đỡ mịn nhẵn đến không thể ngờ. Trên đó, trên tấm thảm ngỡ được là ủi đặc
biệt công phu đó, những
lồng
ngực trống rỗng như đắp bằng bùn trộn trấu có những búi ruồi say sưa đánh vòng
vo ve tíu tít ở bên trong. Một trái nghịch ám ảnh mãi tôi: cái khung bên ngòai
xù xì ghê rợn sao lại dung được một vận động hớn hở, trơn mượt thế kia? Có phải
chỗ miệng khung mở ra cho thấy không gian bên trong nửa sáng nửa tối kia chính
là cái vùng người ta vẫn quàng thắt lưng vào? Có những lần cởi nó ra để rồi sau
đó nhớ mãi người đàn bà lặng lẽ chờ (sau này tôi ngạc nhiên bảo Nguyễn Tư
Nghiêm sao lúc ấy lại nghĩ lạ như thế? Nghiêm nói: -Trước cái mệnh sắp thành hư
vô, cậu nghĩ tới cái hành vi tạo nên sự sống.) Ngước mắt lên những lưng dốc ở
trước mặt:mặt đường đang váng lên một chất ngũ sắc óng ánh mỡ. Ôi, biến hóa của
vật chất và phần còn lại của một đời người! Tôi bịt mũi cắm đầu chạy. Chợt nghĩ
tới những bà mẹ của các người lính chết này. Nếu ở đây lúc này, chắc các mẹ sẽ
sờ lần tìm kiếm chi li từng dấu vết các mẹ rất thông thuộc trên người những đứa
con... Và tôi không chạy nữa. Tự nhiên thấy yên tâm cho những đứa con đang tự
thể hiện ra ở những dạng thối rữa khác nhau lạ lùng nhưng chắc chắn mẹ họ lại
nhận ra được…
Nghe
tin ta và cố vấn mâu thuẫn nhau. Cố vấn cho rằng ba ngày đánh Cốc Xá là nướng
quân nhưng Giáp quyết diệt quân Charton đóng trên núi… Tự nhiên thấy khó chịu
với các cố vấn. Như bị xúc phạm.
Trong
tổng kết chiến dịch đã có các cuộc tranh luận khá gay gắt về phối hợp giữa binh
sĩ Việt Nam
và cố vấn.
Nhưng
sau khi kết thúc thắng lợi chiến dịch biên giới, ngày 14 - 10 - 1950, Hồ Chí
Minh gửi thư cho Mao Trạch Đông, Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc: Tóm lại,
tôi cho rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối Mao Trạch Đông cách mạng,
quốc tế chủ nghĩa. Tôi không nói lời khách sáo: “Cảm ơn các đồng chí,” mà nói
các đồng chí Việt Nam
và nhân dân chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa giành lấy thắng lợi cuối cùng lớn hơn,
lấy thành công để đền đáp sự kỳ vọng tha thiết và giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng
sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Liên Xô anh em.
Chả
ai thấy chữ đền đáp kỳ vọng nghe nó quá bề dưới… Không phải ngẫu nhiên mà đến
Đại hội 2 (1951), điều lệ đảng đã ghi “tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam”
của đảng.
Báo
Sự Thật đăng bài “Khi chúng ta đánh” của tôi viết về trận nhổ đồn Đông Khê. Hai
tháng sau, xong chiến dịch, một tối về đến Chợ Chu, vào quán nghỉ, tôi gặp Từ
Bích Hoàng, Sĩ Ngọc ở báo Vệ Quốc Quân. Hai anh cho hay báo các anh đã đổi tên
thành Quân Đội Nhân Dân và ra số thứ nhất, ở số báo ra mắt này, các anh đã xin
phép đăng ở trang nhất bài “Khi chúng ta đánh.”
Và
ở đây xin kể thêm lần hành quân qua Đại Bục, Đại Bác, đèo Khau Vác vào đánh
Nghĩa Lộ. Tôi đi cùng Tô Hoài. Trung đoàn 88.
Trời
mưa dữ dội. Quân lính dừng lại ở bên một con suối rộng chừng hai mươi mét. Nước
lũ cường dựng ngược lên một con dốc đứng gào thét. Anh trung đội trưởng hất
đầu. Một lính trẻ măng mặt bầu bĩnh, má lũm đồng tiền đi lên. Tối qua anh ngủ
gần chỗ tôi. Tiếng lính hành quân lần lượt truyền nhau: “Lệnh không ngâm Tây
Tiến của Quang Dũng ủy mị.” Truyền miết nó gần như hóa ra Không... Tây Tiến...
anh dũng... Lệnh vừa báo nghỉ thì mấy lính trẻ ồn ào tranh nhau ngủ bên anh
lính má lũm đồng tiền.” Nằm với nó ấm lắm!” Bây giờ anh đứng ở đây. Anh nhẹ
nhàng trườn vào dòng nước. Tôi thầm khen anh giỏi: biết đánh lén con nước dữ.
Nhưng anh trúng nghi binh. Nó đã vồ nghiến lấy anh. Cuộn dây thừng trong tay
anh tuột ra văng trên mặt nước như một lằn roi sáng quắc. Và chỉ một dìm xuống
rồi một nhồi thúc lên
là
anh lính liền mất tăm. Khi anh dội ngược trở lên lần cuối, hai mắt anh mở đã
dại đờ. Cái chết chớp nhoáng nhưng những nghi thức đi kèm nó lại từ tốn rất
mực. Cặp mắt dại kia như mơ màng khép lại, tóc trên trán anh thong thả tách ra
từng sợi lượn lờ rồi ngoan ngoãn theo nước mơn trớn phân chia để lần lượt rẽ
trái rẽ phải hai bên, quá đều, quá phân miêng, khơi ra một đường ngôi quá
thẳng, quá sạch, quá trắng ở chính ngay giữa đỉnh đầu anh. Tôi khẽ nấc và cắn
chặt môi. Tôi thấy lại anh ba bốn tuổi đang ngửa mặt lên cho bàn
tay
mẹ định hình đường ngôi đầu tiên trong đời để anh giữ lấy mãi, đường ngôi mà
nay con lũ trung thành đang tỉ mẩn xếp lại cho đúng nguyên mẫu ban đầu.
Tôi
nhìn xuống nắm cơm mới bửa trong lòng bàn tay tôi:nó đã thành hai mảnh cùi rỗng
bị mưa khóet tan nát hết...
Sau
đó bám dây qua, tôi trước, Tô Hoài sau. Người, ba lô, ruột tượng (mười ký gạo),
tất cả nằm thẳng băng trên sóng cuồn cuộn. Hai đùi rung lên bần bật muốn rời
bung ra. Sợi chão lớn chúng tôi ôm bấu lấy nó dạt cong ra như một cánh cung
căng hết độ chỉ dọa đứt. Và chúng tôi là những đầu mẩu thừa của những cái nút
buộc lật phật trên cánh cung...
Tối
hôm ấy, Tô Hoài và tôi ngủ ở sườn núi dốc 30 độ. Đầu gối ba lô, mỗi đứa chèn
chân vào một gốc cây cho khỏi tụt… Trước đó chúng tôi qua một bản Mèo trên đỉnh
núi, Ba nhà, mấy người đàn bà mặt phù, vàng ủng nhìn chúng tôi như nhìn người
nước ngoài.
Tối
hôm sau, đêm hành quân cuối cùng vào vây Nghĩa Lộ, chúng tôi bạt mạng chạy theo
người trước qua cây cầu dìa mười mét, rộng bằng ba bàn chân tối mờ mờ. Suối réo
như nước sôi bên dưới vực. Vừa chạy vừa nghĩ:
Rơi,
rơi này… Cái gì đưa chân đi? Không phải mắt! Một vong linh yêu thương nào đó.
* * *
Tôi
ra trận lần đầu vào hồi tháng 8 - 1948. Kỷ niệm lần thứ ba Cách Mạng Tháng Tám,
tỉnh mở “cuộc tổng công kích Đường 5.” Tôi đi cùng ban chỉ huy một tiểu đoàn
hành quân đêm qua vùng chiêm trũng giữa Cẩm Giàng - Gia Lộc để đánh bốt Mao
Điền gần Đường 5. Mao Điền này có Văn Miếu đồ sộ không kém mấy Văn Miếu Hà Nội.
Giữa chừng lọt vào trúng đồng lụt. Lội lên một xóm nhỏ hẻo lánh vắng tanh có
một túp lều tí tẹo xiêu vẹo. Bảy tám chúng tôi vạch liếp vào. Hai nguời đàn bà,
một già chắc là bà, một trẻ chắc là mẹ, và một đứa bé mấy tháng trong tay người
mẹ mặt mũi đen nhẻm những vết tro than. Hai người sụp lạy như tế sao: “Bẩm lạy
các quan, bẩm lạy các quan sinh phúc...” Tất cả trở ra. Mình tôi nán lại, nắm
tay bà già: - Ta, ta đây mà... ta...” Thật lòng muốn lạy trả lại hai người đàn
bà khiếp đảm.”
Khỏi
cái lều thì sục vào một bãi hoang đầy thị chín rụng nát dưới chân. Khu Văn Miếu Mao Điền ư! Mùi thơm ngào ngạt, bát ngát kỳ lạ. Cả cái bãi tối
như đang được cất bổng lên tới một nơi thanh khiết không hăm hở, không sợ hãi,
không người lạy người. Cả đời tôi sau này, ước mong hòa bình luôn hiện ra trong
không gian thâm u tràn trề mùi thị lâng tang đến miếu này…
Sau
đó bị phục kích. Quay đầu chạy lui, nước ngang bụng. Những quả hoả châu dập
dềnh tròng ghẹo trên đầu. Trận đánh đầu thị xã Hải Dương có Trần Châu, anh tôi.
Những quả mìn nằm trong giọ lợn hai lính khiêng một quả, chẳng rõ thế nào giữa
chừng phát nổ. Lộ hết. Thế là rút, không đánh kỷ niệm cách mạng nữa. Nhưng bản
tin ty thông tin hôm sau mang măng sét đỏ: Tổng công kích Đường 5 thắng lớn!
Chiến
tranh để lại ở tôi ba ấn tượng sâu sắc: buồn, sợ và thuơng - thương dân, thương
đồng đội, thương cả đối phương. Nhưng tất cả đều phải giấu kín. Như gia u nghi
ngơ trong đầu: nhiều chiến công là phịa. Và đầu tiên giấu sự thật, cố nhiên.
Cuối
cùng một phen hút chết. Sau khi tiêu diệt binh đoàn Charton và Lepage trên
Đường số 4 và quân Pháp rút bỏ Thất Khê, ta tổ chức một tối đại lễ mừng chiến
thắng ở ngay trung tâm thị xã Cao Bằng. Nghe nói Bác Hồ sẽ đến. Nhưng rồi tan.
Bom Pháp.
Tôi
bị trận bom lớn đầu tiên xẩm chiều hôm đó. Ngỡ chữ Thọ vẫn ở trên trán đã văng
đi đâu mất. Nằm ngửa nhìn Đa -cô - ta, loại DC3, từng đợt ba chiếc từ từ dịch
đến trên nền trời đang tái dần. Đất vặn mình, hơi bom - hay cả mảnh bom -phần
phật... Rồi chợt thấy nền trời như một tấm khăn giường rất căng rất phẳng và
các chiếc Đa - cô - ta quay về xuôi đang trôi lướt trên đó. Đèn đuôi chúng nhấp
nháy êm ả như vài ánh bếp đêm hôm rất gợi nhớ nhà. Biết nguy hiểm đã qua nhưng
lại buồn.
* * *
Trước
cảnh chiến địa tan hoang, ngổn ngang xác người tôi cứ luôn thấy buồn. Cố nhiên
không dám thổ lộ. Tôi chú ý thấy thương binh địch và ta giống nhau lạ lùng ở
con mắt sợ sệt. Mặc dù ở quân y tiền phương, thương binh ta đuợc cứu chữa tốt
hơn… Thì ra cái sợ là dấu hiệu tuyệt đối bình đẳng của con người ở trước cái
chết
Tôi
không thể quên lần ở đồn Mộc Châu vừa im tiếng súng cuối 1952, tôi hỏi Vũ Lăng:
- Lúc đánh có sợ không?
-
Sợ chứ!
-
Sợ thật?
-
Thật..., vãi đái ra mà. Nhưng chỉ lúc chờ đánh, lúc vây đồn thôi. Còn nổ súng
rồi thì hết sợ. Diệt đồn xong, đứng dưới cờ chiến thắng phấp phới, quần đã khô
từ bao giờ.
-
May, tôi nghĩ thật nhưng nói bằng cái gịọng đùa, nếu cái sợ nó không thể hiện
bằng nước mà lại bằng sẹo trên mặt nhỉ?
Vũ
Lăng nhồi thuốc vào tẩu ngước lông mày rậm nhìn tôi.
-
Thì trên mặt ai cũng dày cộp lên di tích sợ... Khi ấy khéo
con người sẽ thôi đánh giết nhau.
Vũ
Lăng dư dứ cái đầu tẩu vào tôi... Thuốc trong tẩu là Abdhulla.
Thế
là có hôm tôi chợt thấy giá như cái sợ không chỉ để lại di tích trên mặt người
bằng những cái sẹo mà cả những thành tích giết địch cũng được lưu lại bằng sẹo
trên mặt? Chúng ta sẽ có những anh hùng mà mặt mũi giống hệt người bị hủi cùn hủi
cụt. Lúc ấy Nhà nước khéo
phải có một hình thức nào đó
để
giúp phân biệt sẹo anh hùng với sẹo hèn…
Nhưng
lại tự dẹp ngay cái ý nghĩ tầm bậy đó. Tôi vẫn chưa nhận ra bản chất bạo lực,
nhất là bạo lực vũ trang hay “chính quyền ra từ nòng súng” của cộng sản, hay rõ
nữa: với mục tiêu đào mồ chôn tư bản, cộng sản không thể hòa bình với tư bản.
Phải đến cuối 2010, đọc Matterhorn , tiểu
thuyết ra mắt
giữa
2010 víết về một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ chiến đấu ở Khe Sanh, A Lưới, Cam
Lộ tôi mới hiểu hơn. Tác giả, Karl Marlantes, tốt nghiệp đại học Yale - như vợ
chồng Bill Clinton, W. Bush, Kissinger - 21 tuổi đã là lính ở Khe Sanh và tiểu
thuyết này của ông đã được đánh giá rất cao - tác phẩm Mỹ viết về chiến tranh
Việt Nam
hay nhất và có lẽ khó có sách nào vượt hơn. Bởi tinh thần nhân văn tràn trề làm
chỗ đứng cho tác giả nhìn nhận nhân vật trong tác phẩm. Tôi đã rất cảm động đọc
đề tặng của ông: Tiểu thuyết này tặng cho các con tôi, chúng lớn lên với cái
hay và cái dở của việc có một người bố là cựu chiến binh Thủy quân lục chiến.
Nên biết ông nhận hơn mười lọai huân huy chương khác nhau trên chiến trường
Việt Nam .
Anh
lính có chính ủy giáo dục chỉ thấy thiên đường là dành cho mình, người chính
nghĩa; còn địa ngục thì cho thằng phản động, cái đứa mà mình đã lập công giết
chết.
Thâm
tâm kị chiến tranh, nên tôi nói hơi kỹ cảnh đau lòng của chết chóc. Chính tâm
lý ngán chiến tranh đã dẫn tôi tới nỗi tội đồ.
* * *
Từ
Trung Quốc vào ta cùng với vũ khí với những tam tam chế, tứ khoái nhất mạn,
nhất điểm lưỡng diện, tiêm đao tung thâm chia cắt..., còn cố vấn, còn chỉnh
huấn, có thể nói một nề nếp sinh họat mới, một ý tứ mới phải tuân thủ, coi
trọng Tôi đã dự lớp chỉnh huấn đầu tiên chủ yếu dành cho đảng viên văn nghệ,
báo chí ở ATêKa. Lớp cán bộ sang tận Hoa Nam học cách thức về chỉ đạo. Tôi
cùng chi bộ - tức một nhà sàn - với Xuân Diệu, Nguyễn Tư Nghiêm, Phan Kế An, Lê
Đạt...năm cái mồm lý sự cùng một số anh chị em khác.
“Mời
các đồng chí trọng thính lên trên cùng.” Nam , trong học ủy, trịnh trọng mở
lớp. Cả lớp - kể cả thâm nho Ngô Tất Tố - ngớ ra.
-
Trọng thính là các đồng chí nặng tai ạ! Mọi người ồ lên. Tôi vẽ trên báo tường:
một người vẹo mặt đi, tai xệ xuống vai vì một quả tạ có chữ “trọng lượng
thính.”
Bắt
đầu thí điểm cho nên học nặng về tranh cãi chữ nghĩa. Chi bộ tôi bỏ cả ba buổi
thảo luận say sưa thế nào là tôn chỉ. Xuân Diệu cãi hăng nhất. Nhưng hết phần
lý luận chuyển sang phần kiểm thảo thì đều cảm thấy ơn ớn. Mang máng một cái gì
của sám hối tôn giáo, lờ mờ một cái gì xúc phạm nhân cách, cân cấn một cái gì
muốn cưỡng lại nhưng không dám. Trung Quốc làm thế từ Diên An cơ mà! Mỗi người
đều phải khai hết sai lầm, khuyết điểm ra với đảng dù nghiêm trọng đến đâu. Lòng
thành khẩn tự phanh phui bản thân là thước đo lòng trung thành với đảng. Xin
nói thêm là khai cả tội ác của bố mẹ, vợ con, bạn bè nếu họ có. Một tên chỉ
điểm vô hình được cài vào trong từng người. Và khi tên chỉ điểm ấy đã an vị trong
anh thì từ đấy cái bóng lù lù của nó - một thằng cò sợ hay một thằng Javert của
đảng - bèn trùm lên khắp người anh.
Có
thể nói lớp chỉnh huấn tháng 3 năm 1951 ấy là mở đầu cho các cuộc chỉnh huấn
đều kỳ của cán bộ đảng viên. Trước mỗi vận động lớn hay trong các cuộc học tập
lý luận thường xuyên đều có chỉnh huấn. Chìa khoá vạn năng thúc đẩy tiến bộ tư
tưởng! Dĩ nhiên lúc ấy tôi chưa thể nhận thấy đó là xâm thực ô nhiễm nhân cách.
Những người chống Mao ở Trung Quốc chưa cầm quyền, chưa vạch ra mục đích chỉnh huấn
nham hiểm của Mao, dùng chỉnh huấn khống chế mỗi tôi con của đảng bằng cách nắm
lấy cung của mỗi tôi con -một biến thể của hồ sơ mật thám. Gogol viết một đại
điền chủ thu mua các linh hồn chết. Ở đây thì lưu trữ rác rưởi của mỗi linh hồn
rồi biến chúng thành một quả mìn đe nổ.
Song
lần truy nã tư tưởng đầu tiên chưa gay gắt. Nói chung không có gì ghê gớm. Trừ
Ngô Tất Tố bị lưu lại kiểm thảo thêm mấy ngày vì Tố muốn bỏ về sớm. Và Tố đã lỡ
khai rằng hồi ở báo Cứu Quốc, trong một lần rượu Tết quá chén, Tố có nói một
câu bậy bạ nghiêm trọng như sau: Tôi là con chó, con chó thời Tây rồi thời cộng
sản. Chó thời Tây còn ủng
oẳng sủa dăm ba tiếng chứ chó thời cộng sản thì cúp đuôi nằm im re...
Như
Phong, người từng dự bữa rượu kia bảo tôi: - Bữa ấy tớ có mặt, tớ
cùng ở Cứu Quốc với Tố mà, Tố cứ đấm ngực kêu ô ô lên như mày kể thật nhưng...,
Như Phong ôm miệng cười nhìn quanh, đếch biết là hắn say thật hay là vờ để
chửi, mày ạ. Theo tớ thì vờ. Dạo ấy đảng còn lỏng tay nên chúng nó mượn rượu
nói xỏ, nay xem có thằng nào say nói láo nữa đâu!
Khó
quên hình ảnh Ngô Tất Tố tóc dài nhưng thưa, hoa râm, lòng khòng đứng cúi đầu
ăn cơm, một dáng co cụm như đeo biển miễn giao lưu, ở cái bàn tre đan xiêu vẹo
vắng tanh dành cho học viên đau dạ dầy ăn nếp. Thỉnh thoảng Lê Đạt đến ngoác
mồm ra tán ở bên…
Nhân
đây nói liền sang Tố và công tác tư tưởng thời đó ở trong giới văn nghệ sĩ An
toàn khu.
Hai
năm trước Ngô Tất Tố dịch “Trời Hửng” của Trung Quốc. Tố sống ở một gian nhà
nứa ngay cạnh gian của Nguyễn Tuân nhưng hai vị trưởng lão này kỵ vía, không
nói năng với nhau. Mạc Phi bảo tôi, sớm nào Phi cũng đun nước sôi cho Tố pha
trà. Anh vừa được cất nhắc vào ban lãnh đạo mới của đoàn kịch Chiến Thắng gồm
có Song Kim, Hoàng Tích Linh và anh. Hai nhà lãnh đạo tài ba cũ Thế Lữ và Võ
Đức Diên, nhà kiến trúc sư kiêm kịch tác gia và anh ruột của Trần Quang Huy đã
bị Tố Hữu phế bỏ. Tố Hữu chỉ thị cho Tích Linh và Mạc Phi, hai đảng viên: -
Đảng đưa hai anh vào đây để làm gì? Để lọc hết máu tiểu tư sản cho đoàn kịch.
Lọc rồi thì chuyền máu gì cho anh chị em? Máu công nông binh! Nói cụ thể là
phải quần chúng hóa, tập thể hóa, quân sự hóa đoàn kịch... Tập thể hóa là thế
nào? Nói cho dễ hiểu là không cần sân khấu, bục diễn, hậu trường, cánh gà, son
phấn chi cả. Diễn lửa trà… à... trại… giữa trời, lưa.. trà… à… trại là đi thẳng
từ quần chúng đến quần chúng. Tư tưởng tập thể còn là gì nữa?Là việc sao chi
cần một người hát giọi? Đúng,
ta cần là quần chúng đều biết hát, đều tự hát để tự nghe, tự nâng cao tình cảm
cách mạng lên. Làm sao phải xòn
phe cho rối mắt quần chúng? Bên Trung Quốc vì quần chúng, người ta thay đồ, rêbằng
1, 2, 3, quần chúng nhìn vào hát ngay được.
Theo
Mạc Phi thì cụ đồ Tố và Tuân xung khắc nhau. Tố cho là Tuân kênh kiệu vờ để
hách lác thật. Điệu bộ sang
cả chuyện” lột xác “cho khác người. Tố
mách Phi lật cái ảnh con trai Tuân, đại đội trưởng Trần Xuân Trường mà Tuân để
ở trên bàn nứa của Tuân ra mà xem mặt sau. Phi xem. Thấy Tuân đề ở sau bức ảnh
dòng chữ: “Je suis le fils de mon fils.” (Tôi là con của con tôi). Tố hỏi Phi:
- Xem rồi chứ? Tại sao cứt nhà tôm lại lộn lên làm đầu như thế? Vì công nông
binh từ nay là đấng phụ mẫu sinh thành ra bọn trí thức vốn không bằng cả cục
cứt.
Một
sáng Trường Chinh họp kiểm điểm báo với chúng tôi ở dưới ngôi nhà sàn tòa soạn.
(Đêm đêm, đó là bãi thả dê của cụ chủ nhà người Tày. Sớm nào chúng tôi cũng nằm
sấp trên sàn thò đầu nhìn cụ chủ mở cửa thả dê ra rừng. Bốn năm chục con dê toàn
cái chen nhau lao ra. Nhưng tới cửa con nào con nấy đều bị con dê đực chặn lại
phủ nhay nháy mấy cái, việc mà chúng tôi đùa là “điểm đít” thay cho điểm tâm.)
Đang
họp, Trường Chinh bỗng chỉ xuống chân đồi, ngay trước mặt: - Các anh xem kìa.
Trên
bờ tràn ruộng hẹp đầy nước loang loáng giữa những búi lúa mới vổng đuôi gà, ba
người rồng rắn đi tới. Ba cái mũ vải (sau gọi là tai bèo nhưng dạo ấy ở An toàn
khu gọi là mũ Tô Ngọc Vân), ba túi dết vải toòng teng cùng đeo về bên trái hông,
ba cây gậy chống và ba cái tẩu phì phèo. Tất cả những
đạo
cụ sân khấu đi kèm nhà văn nhà thơ ấy đã được chia đều ra ở đầu, tay, miệng của
Tố Hữu dẫn đạo, Nguyễn Tuân khúc giữa và Nguyễn Đình Thi khúc đuôi.
-
Các anh xem, bắt chước nhau cho khác người nhưng lại phải giống hệt nhau, văn
nghệ sĩ là phải như thế ư? Anh Nguyễn Tuân mặt to ngậm píp còn khả dĩ chứ anh
Tố Hữu mặt choắt thì píp nó che kín mất hết…
Trong
mắt Trường Chinh, Tố Hữu không chỉ bé mặt mà còn bé chức. Nhưng đến Đại hội 12, ba năm sau, anh đưa Tố Hữu vào sổ Thiên tào - dự
khuyết trung ương. Cùng Lê Liêm, Xuân Thủy,…
Trường
Chinh lúc ấy rất quan tâm đến văn hóa văn nghệ. Lê Đạt được kén làm thư ký mảng
này. Một dạo Ban Văn Hóa của Trần Huy Liệu kiện Ban Văn Nghệ của Tố Hữu buôn
lậu lấy tiền lập quỹ đen tiêu xài vung vãi. Trường Chinh cử Lê Đạt đến nghe hai
bên. Đạt tới và trước hai bên nguyên bị sát khí đằng đằng, toét mồm tự giới
thiệu: “Dạ, thưa tôi đến thế này chẳng qua cũng là anh lính lệ nhà quan.” Trần
Huy Liệu cười. Tố Hữu xầm mặt lại.
Ít
ra lúc ấy trên rừng, chủ nghĩa Mác - xít chưa thành chủ nghĩa Mác - mít, chủ
nghĩa nồi cơm (tiếng Pháp: marmite -BT)... Chưa có câu “ngậm miệng ăn tiền,”
“đi bằng đầu gối,” “mác xít có số.” cái gì làm cho chủ nghĩa Mác - xít biến âm thành
chủ nghĩa nồi cơm? Đảng đã dẫn tất cả đi vào con ngõ cụt, bước theo một ngọn
đuốc kị lửa trí tuệ mà các “đồng chí” them thuồng đất đau lãnh thổ của mình
giương lên…