22/9/14

ĐÈN CÙ (TRẦN ĐĨNH) - PHẦN III

CHƯƠNG CHÍN


Một sáng Nhân Dân nhật báo ra xã luận:  Đến lúc rồi!shi shi hou le! 

Lúc gì? 

Lúc trấn áp, nghiền nát, đập tan bọn  “hữu phái”  đang điên cuồng chống phá Đảng cộng sản, mưu mô đưa Trung Quốc quay ngược trở lại con đường tư bản phản động. 

Dài hơn gấp ba, xã luận hôm sau mới nói rõ hết đầu đuôi. 

Phái hữu đã lợi dụng thiện chí chỉnh đảng, trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng của đảng để lật đổ đảng.  Chúng là lũ rắn độc, cỏ dại. Chúng nói đảng bày mưu lừa người. 

Đúng! Mưu thật. Nhưng không phải âm mưu mà là dương mưu vì mưu này bảo vệ chủ nghĩa xã hội.  Không có mưu sao nhử được rắn độc, cỏ dại chui ra, ngóc lên mà tiêu diệt chúng chứ?

Đảng để tỷ lệ 5 % đảng viên là phái hữu.  Họ là những người lãnh đạo đã chấp hành nghị quyết chỉnh đảng mà cho mở báo chữ to, diễn đàn dân chủ để “thiêu đảng.” 

Họ là những người đã bắt đầu do dự thì giật mình thấy Trần Kỳ Thông bị kỷ luật giáng cấp vì dội nước lạnh vào tinh thần đấu tranh của quần chúng cho nên lại vội ra sức lãnh đạo quần chúng đẩy mạnh thiêu đảng lên một nấc nữa. 

Hàng triệu người đã bị chết, tù, lầm than trong cuộc đàn áp. Biết bao gia đình tan nát. 

Sóng thần nổi lên dữ dội trong giới văn học nghệ thuật. 

Điêu linh những Ngãi Thanh, nhà thơ theo trường phái Apollinaire với tập thơ “Đuốc” cùng thời “Nữ thần” của Quách Mạt Nhược, Đinh Linh, Phùng Tuyết Phong, Ngô Tổ Quang... 

Một chuyện làm xúc động và kính phục: Tân Phụng Hà, nghệ sĩ lớn Bình kịch, ngang tầm với những Mai Lan Phương bậc nhất Kinh kịch và Hồng Tuyến N, bậc nhất viết kịch tuyên bố từ bỏ hết các danh hiệu đảng đã khoác lên bà như đại biểu Quốc hội..., từ bỏ hết để cam chịu cùng tội hữu phái với chồng bà, nhà lý luận sân khấu lớn Ngô Tổ Quang.  (Nhưng một tài liệu sau này tôi đọc lại nói Trương Khiếm, người đóng Hồ Điệp phu nhân trong vở ca kịch cùng tên lừng tiếng là vợ Ngô Tổ Quang.) 

Mao vạch mặt tổ chức  “chống đảng Chương Bá Quân  -  La Long Cơ.”  chương Bá Quân, bộ trưởng Giao thông, chủ tịch Đảng Dân chủ Công Nông; La Long Cơ, bộ trưởng Lâm nghiệp, Phó chủ tịch Đồng Minh Dân Chủ, lãnh tụ tinh thần của trí thức ở Âu Mỹ về nước.  La Long Cơ có một câu làm Mao tức tối: “Tiểu trí thức của chủ nghĩa Mác - Lê lãnh đạo đại trí thức của tiểu tư sản. Thằng mù dắt thằng sáng đi.” 

Phải nói tôi thích ông trí thức này không bằng các đảng viên cộng sản thiêu đảng. Vẫn ngờ động cơ các ông. 

Mã Dần Sơ, nhà kinh tế học tên tuổi và hiệu trưởng của chúng tôi cũng bị lôi ra là  “rắn độc.”  Ông đã phê phán lời kêu gọi của Mao cho rằng Trung Quốc càng đẻ nhiều càng tốt vì người là tư bản qúy báu nhất, vì Trung Quốc  phải tiến lên bằng các đại công trường thủ công nên càng ăm ắp người càng tốt.  (Những năm70, Lê Duẩn đề ra đại công trường thủ công và hợp nhất tỉnh, huyện cho đông sức chân tay là dựa vào ý Mao.)  Ông già Mã Dần Sơ bị đưa đi cải tạo ở đâu tôi không rõ. 

Qua mấy tháng vờ dân chủ để khều rắn kể trên, tôi dần thấy thì ra mình cũng “rắn độc.” Chỉ là không bị nhử và không có chỗ chui ra thôi. Phải chờ sau khi về nước nó mới lộ mặt. 

* * *

Một chuyện xảy ra với tôi trong lúc báo chữ to đang rầm rộ. Câu chuyện tôi giấu mãi. 

Bữa ấy tôi đang đọc báo chữ to gần  Da Xan Ting,  -  đại thiện đình  (Nhà ăn lớn).  Một sinh viên Trung Quốc đến bên tôi. Trắng, đẹp, kính trắng, mắt hiền. 

- Xin lỗi, anh là lưu học sinh Việt Nam?

-  Vâng, còn anh ala Thượng Hải?  (ala tiếng Thượng Hải là chúng ta, chúng tôi.) 

-  Tôi là...  (anh nói tên nhưng tôi không nhớ),  muốn nói chuyện một ít với anh, có được không?

Anh nhờ tôi chuyển cho sứ quán Việt Nam một thư đề nghị Bắc Việt Nam hãy tôn trọng hiệp định Genève, đình chỉ đưa quân và vũ khí vào trong Nam cũng như rút lực lượng đã phi pháp cài lại từ 1954. 

- Làm gì có chuyện ấy nhỉ?

Hoàn toàn bị xúc phạm, tôi vừa ngớ ra ngạc nhiên vừa khó chịu.  Anh đốt đảng anh thôi chứ lại định đốt cả đảng tôi nữa ư? 

-  Có, đài nước ngoài thường xuyên lên án, tố cáo Bắc Việt Nam. 

- Sao anh tin những thứ ấy?

- Đọc các đại tự báo đây anh có tin không? 

Tôi quay đi và nói:  -  Tôi không chuyển thư anh được vì bận và vì ý kiến của anh thiếu cơ sở. 

Nhưng từ hôm ấy, tôi bỗng cứ lởn vởn nghĩ ta có vi phạm hiệp định Genève thật không?  Chả lẽ ta chính nghĩa lại bội ước? Chả lẽ bản chất ta hòa bình lại thích chiến tranh? 

Lúc ấy thật tình tôi không biết đảng có phương án kế hoạch cài cán bộ và quân lính ở lại miền Nam cũng như tiến hành nghiên cứu ngay từ đầu hình thế bờ biển để sau này lập“đội thuyền không số” có cơ sở ở huyện Thủy Nguyên. v. v. Lúc ấy đâu đã đến ngày, thí dụ 24 tháng 5 năm 1962 để tôi họp trưởng phó ban của báo Nhân Dân mà ghi vào sổ tay sự việc dưới đây:  Chính phủ Diệm gửi công hàm đi 72 nước đề nghị lên tiếng phản đối Việt Cộng ngày một mở rộng hoạt động lật đổ (lúc đó Cà Mau đã thành vùng giải phóng) thì Anh quốc và Sihanouk hưởng ứng sớm nhất.  Anh quốc quy trách nhiệm cho Hà Nội vi phạm hiệp định Genève, Sihanouk thì yêu cầu mở hội nghị  quốc tế giải quyết vấn đề miền Nam để đất nước ông được yên.  Nhưng Liên Xô, ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và nước ký vào hiệp định Genève, lại đổ hết trách nhiệm cho Ngô Đình Diệm, quyết giữ hình thái hai bên Quốc  -  Cộng  “trùm chăn đánh  nhau”  chết thôi bên trong lãnh thổ miền Nam theo đúng ý đồ miền Bắc. 

Canada và Ấn Độ trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế đã ra nghị quyết riêng lên án Hà Nội vi phạm hiệp định Genève. Thế là báo Nhân Dân nổ xã luận đả kích dữ dội họ.  Phản ứng lại, Canada dọa  rút khỏi Ủy ban vì ta bảo họ  “đứng đằng sau Mỹ”  vu cáo miền Bắc.  Ấn Độ thì bị xã luận bôi cho một câu lăng mạ:  “không xứng đáng là chủ tịch Ủy ban quốc tế..”  .  Sau đó, hưởng ứng xã luận, dân nhiều nơi mít tinh đả đảo Canada, Ấn Độ. 

Lê Duẩn phải dặn dò nên chú ý lời lẽ đả kích Anh và Ấn Độ. Cung bậc theo ông đại khái là chính phủ thì ôn hoà, báo đảng có thể cao giọng đôi chút còn ngoài ra, các báo khác tha hồ được nặng lời với hai ủy viên quốc tế  “bênh Mỹ  -  Diệm.”  Liều lượng phân bổ đòn ngôn luận này đã vào cẩm nang. 

Nhân nhắc đến Lê Duẩn thời gian này, xin kể tiếp một việc cũng vào sổ tay tôi lúc ấy.  Ban văn hoá của báo cho biết anh Lê Duẩn quan tâm đến đời sống dân lắm.  Anh đã hỏi kỹ anh Phạm Ngọc Thạch rằng một bát cơm ăn với rau muống luộc có khác một bát cơm ăn với rau muống xào không.  Khi nhờ phân tích khoa học cao siêu,  (tôi ngứa tay thêm mấy chữ này vào đây)  biết là có khác nhau...”  cơ bản”  thì anh Duẩn đã chỉ thị hãy cố sao cho  “về cơ bản”  dân ta được ăn nhiều rau muống xào mà”  cơ bản”  bớt luộc đi.  Nói  “về cơ bản”  vì phấn đấu cho có thêm mấy triệu thìa mỡ mỗi ngày  “về cơ bản” không dễ!...  Tôi nghĩ ngay việc gì phải Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu, cứ bày lên bàn ông Duẩn hai dúm cơm, một rang mỡ, một không là kiến nó cho ý kiến nó ngay không phải chờ Phạm Ngọc Thạch chỉ thị cho ngành y tế. 

Nhưng xin trở lại chuyện diễn ra ở Bắc Kinh. 

* * *

Tuần sau tình cờ tôi gặp anh  “Thượng Hải”  ở gần Đại lễ đường.  Anh đi với một cô gái trăm phần trăm  Shang hai gu niang, Thượng Hải cô nương. Cô gái nhìn tôi như có ý hỏi anh bạn đi bên: - Cha từ chối đưa thư đấy phải không?  

Không nghe thấy nhưng tôi cáu  -  đinh ninh cô gái nói  nei jia huo, thằng cha kia.  Cùng lúc thấy cô gái rất đẹp. Picasso có lẽ lấy mẫu kiểu tóc đuôi ngựa ở cô gái thanh tú này. 

Chẳng hiểu sao tôi rẽ  ngoắt luôn.  Tức. Không, có cả ghen vớ ghen vẫn. 

Khi chống phái hữu, nhiều giáo  sư, sinh viên bị đưa đi, tôi có ý tìm anh  “Thượng Hải.”  Không thấy nữa.  Nghĩ cô gái Thượng Hải nếu không xuống nông thôn lao động cải tạo - để bị người ta cưỡng hiếp, chửa hoang và treo cổ chết  -  thì chắc phải bỏ học và bỏ cái đuôi ngựa  “văn hoá đồi trụy phương Tây,” tôi bỗng bồn chồn cùng ân hận lạ lùng. 

Tôi chưa hiểu với tôi những ông thày sống động đầu tiên chỉ ra con đường và cách thức đấu tranh cho dân chủ chính là làn sóng “phái hữu” trong đó có anh sinh viên cùng cô bạn gái xinh đẹp của anh.  Sau này trong gian nan phải chịu đựng tôi mới nhận ra hình ảnh của họ càng đậm nét trong tôi.  Nhưng tại sao anh sinh viên đeo kính trắng lại chọn tôi để nhờ chuyển thư phản đối ta  “phạm pháp” đưa súng ống, binh lính vào Nam? Anh đọc thấy gì ở trên mặt tôi.  Một hừng sáng nào đó ư? Một kiểu Nàng Kiều với Đạm Tiên ngày Thanh Minh. 

Tôi còn một bạn học, người Nam Kinh.  Lúc “phái hữu”  lên tiếng, anh từng bảo tôi:  -  Chắc cậu cũng biết truyện  “cô gái quàng khăn đỏ?”  Chúng ta đấy.  Cũng quàng khăn đỏ cả mà. Hỏi bà ơi, tại sao tai bà to thế?  Bà nói:  -  Để bà nghe thấu bọn phản động chúng nó thì thào.  Thế sao mắt bà sáng thế?  À, sáng mới thấy được chỗ chúng nó ẩn nấp. Còn răng? Sao răng bà to thế?  Răng bà to để ăn thịt những đứa khoẻ thắc mắc về bà... như cháu. Ăn luôn. 

Tôi hỏi anh:  -  Người Trung Quốc nghĩ như cậu có nhiều không? 

- Zen ma shuo ya? Nói sao nhỉ? Một nửa đi. Nhưng nửa kia có loa ở mồm và có súng trên tay. 


CHƯƠNG MƯỜI


Hè 1958, tôi đi thực tập ở Thẩm Dương hay Phụng Thiên, Moukhden, kinh đô gốc của tộc Mãn và cũng là kinh đô vua bù nhìn Phổ Nghi thời Nhật.  Cơ địa công nghiệp nặng từ thời Nhật, nó đang được Liên Xô giúp xây dựng nhiều nhà máy rất hiện đại.  Tôi đến phỏng vấn nhiều nhà máy (cơ khí, điện cơ, gang thép, săm lốp xe tải…, nhà máy chế tạo thiết bị điện, dây điện thật sự nằm trên một nhà máy đồ sộ thứ hai nữa ở ngầm dưới đất phục dịch nó... 

Hôm đầu tôi xuống  nhà máy, một chị biên tập viên của Thẩm Dương nhật báo dẫn đi.  Chị rất u uẩn, tuy cố giữ vẻ bình thường truớc mặt người nước ngoài là tôi.  Tôi dần hiểu. Chồng chị, một trưởng ban của báo đã bị bắt đi cải tạo.  Anh “dung túng cho phái hữu chống đảng.”  “Tôi  nghiêm chỉnh tổ chức và động viên quần chúng thiêu đảng là làm theo nghị quyết đảng,”  -  anh nói.”  Thế đảng bảo anh lật đổ đảng anh cũng lật sao?,”  -  đảng kết luận.  Và anh đi đâu vợ anh lúc ấy vẫn chưa biết

Tất cả các trưởng ban của báo này và nhiều cây bút  khác đã bị như chồng chị. Những con tốt đảng thí trong ván cờ tìm cỏ độc, rắn độc... 

Không hiểu sao tôi cứ thấy như có lỗi với chị biên tập viên dẫn đường.  Tôi biết bi kịch của chị mà không dám một lời an ủi.  Tôi đã buộc chị phải chui ra khỏi con kén nó  che chở nỗi côi cút kinh hoàng của chị để nói lên những lời nhạt nhẽo với guo ji you ren, - quốc tế hữu nhân, bạn bè thế giới... Bạn bè thế giới thì mang lại được gì cho chị?  Đám đã đến đây thực tập thì chắc cũng một giọ thừa sức bày mưu tống giam đồng chí. 

Nhưng chồng chị và chị cũng cộng sản mà?  Nghĩ lắm nhức đầu, tôi chọn mũ ni che tai, coi như không có chị…  Rất lạ là sau sự kiện vạch tội bạo chúa Stalin rồi nay bạo chúa Mao kinh hoàng đến thế mà tôi vẫn một niềm tin chủ nghĩa! 

Thì cũng không hiểu sao ở  Thẩm Dương  -  phải chăng vì ở ngang vĩ tuyến với Triều Tiên?  -  mà tôi thường hay lên đứng trên sân thượng tức tầng thứ mười hai của Thẩm Dương nhật báo nhìn trời, hình dung vẩn vơ tới chiến tranh Triều Tiên và Kim Ki Hoan, sĩ quan Triều Tiên, bạn cùng lớp.  Kim Ki Hoan cục cằn nhưng rất ngay thẳng.  Có hai điều ở anh mà mãi tôi không sao hiểu. 

Một là khi nghe tôi nói  -  đúng với ý đảng  -Pháp đánh trước nên Việt Nam mới phải kháng chiến, anh liền cáu,”  sao để chúng nó đánh trước?  Tha ma tì,  -  mẹ nó, bên tao, thình lình ba sư đoàn tràn xuống, phải giành chủ động chứ, chúng ta là cách mạng mà, chẳng mấy chốc chỉ còn lại có mỏm Pu San...  Tha ma tì,  -  mẹ nó, Mỹ nhảy vào...  không thì nẫng ngon miền Nam rồi…  Chúng nó vào, chúng tao phải rút, lệnh là hủy hết mọi thứ để cho không còn dấu vết lính Bắc, đứa nào cũng chỉ còn có cái  xan jiao ku,  -  khố ba cạnh(tức slip)..., tha ma tì, mẹ nó, Saber Thần Kiếm nó bay dưới cả dây điện cao thế để bắn...  Liên Hợp Quốc chúng nó vào...

Nhưng cũng hả, đánh những bảy tám nước...

- Quân chí nguyện Trung Quốc thế nào, tôi hỏi?  

-  Sang nhiều thì lại khoẻ ngủ bậy với gái Triều Tiên.  Gặp người Triều Tiên mày đừng nói tới Quân chí nguyện... 

Mãi sau tôi mới biết Bắc Triều Tiên không nhắc tới Chí nguyện quân.  Sợ làm nhụt tinh thần Juchi,  -  Chủ thể, nghĩa như tự lực ở ta.  Tất nhiên Kim Ki Hoan và tôi đều không biết Stalin đã bật đèn xanh cho Bắc Triều đánh. Tăng tiền viện trợ lên, cử cố vấn sang đông gấp bội - tính cứ 45 lính Bắc Triều là có một cố vấn Liên Xô.  Tướng Liên Xô Vassiliev đã  đặt kế hoạch chiếm gọn Nam Hàn trong vòng một tuần, từ 22 đến 27 tháng 6 - 1950. 

Lên lớp Hán ngữ hiện đại, nghe giảng tiếng Trung Quốc hay, đẹp, ảnh hưởng tới nhiều ngôn ngữ, thí dụ (ảnh hưởng) Việt Nam 70 %, Triều Tiên, Nhật Bản 75 %, Hoan ngồi cạnh tôi cứ khua cá giầy loẹt quẹt, mắt lừ lừ liếc nhìn tôi (tranh thủ đồng minh)  còn mồm thì lạu bạu:  -  Tha ma tì, lúc thi tao sẽ nói không hay, không đẹp, không ảnh huởng tới tiếng Triều Tiên gì hết..., quẹt quẹt quẹt... tha ma tì! 

Tôi đã có lúc ngờ lòng yêu nước của mình yếu hơn Kim Ki Hoan. Nghe nói 70% tiếng Việt là thuổng của tiếng Hán tôi lại thấy ông cha mình nhịu mồm cho thành ra hàng lô giỏi quá. 

Điều thứ hai thuộc về sinh học.  Kim Ki Hoan một hôm bảo tôi: Bên tao có tục ngữ cứ nom miệng người đàn bà là biết cái bên dưới của người ấy ra sao. Tôi ngẩn tò te thì Kim nói tiếp: Hai cái ấy rất giống nhau, tha ma tì, đúng lắm đấy (!!!) 

Càng ngẩn ra, tôi nói: - Tao thể nghiệm làm sao được chứ?

Ki Hoan lườm tôi:  -  Cái ấy phải tự mày lo!  Định nhờ tao giúp nữa à?

- Ở đâu?

- Zhe ge jia huo, - cái thằng này. Không đây thì đâu? 

Ít ra cũng thấy người Triều Tiên thẳng thắn, chả vờ vịt. Và dâm hơn Việt Nam. 

Xong thực tập trở về Bắc Kinh. 

Trong nước đang đánh Nhân Văn  -  Giai Phẩm vòng hai. 

Năm ngoái dẹp hai tờ báo  của nhóm này ngỡ đã xong nhưng nghe nói Chu Ân Lai có sang phổ biến kinh nghiệm chống phái hữu nên ta lôi ra đánh lại. Mang ra tòa. Dính cả đến “gián điệp.”  Sau này Lê Đạt bảo tôi Đảng cộng sản Pháp có nói với ta gián điệp này là cảm tình của đảng. 

Lộ dần ra hình thái hai biên đội Trung - Việt chắp cánh bay cùng nhau trong vòm trời chuyên chính. Hai biên đội bám nhau như bóng với hình.  1957, Bắc Kinh chống phái hữu, Hà Nội chống Nhân Văn - Giai Phẩm. 10 năm sau, 1967, Bắc Kinh Cách mạng Văn hoá, tiêu diệt  bọn xét lại đi đường tư bản, tống giam Chủ tịch nước và Tổng bí thư hay Khơ  -  rút  -  xốp thứ nhất và thứ hai của Trung Quốc, Hà Nội chửi xét lại Liên Xô, bỏ tù xét lại nội địa.  Chưa đến mức tống giam hại chết nhan nhản như nước anh em nhưng cũng làm lao đao liểng xỉểng khối người. 

Tả khuynh duy ý chí là bệnh gốc của cộng sản, đặc biệt cộng sản kiểu Mao.  Cải cách ruộng đất là lần tả khuynh duy ý chí ở quy mô kinh hoàng ở Việt Nam thế nhưng hình như chúng ta không rút bài học. Nếu rút thì sau những Chống phái hữu, Tiến vọt, Gang thép, mâu thuẫn Trung - Xô..., đến 1963, 64, Lê Duẩn đã không viết  “Mấy vấn đề quốc tế và Ðảng ta,” coi Mao  -  chứ không phải Hồ Chí Minh  -  là  Lê-nin  của thời kỳ ba dòng thác cách mạng Á  -  Phi  -  La toàn thế giới tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội...

Một biểu hiện đỉển hình của duy ý chí tư tưởng nước lớn là  “Con đường Trung Quốc”  mà báo Trung Quốc bắt đầu nói tới.  Nó ra đời  ở Hội nghị trung ương họp tại Bắc Đới Hà, sau khi Mao thị sát chớp nhoáng những công xã nhân dân mới mọc, những  lò cao gang thép mới dựng, những  “sáng kiến vĩ đại” của dân mà đảng thấy là quá thiên tài nên đã tổng kết lại thành đường lối.  Từ quần chúng ra lại trở về quần chúng là thế.  Đề cao “con đường Trung Quốc” là cố đả phá con đường Xô viết. 

Thời gian này Khroutchev bất thần đến Bắc Kinh.  Mao hí hửng nói trước với Lý Chí Toại, bác sĩ riêng của Mao:  -  Tôi sẽ cắm vào mông cha này một cái kim thật là dài.  Lý kể như thế trong hồi ký  “Đời tư  Chủ tịch”  ông viết cuối những năm1980 vén lên biết bao bí mật xấu xa của lãnh tụ. 

Cây kim thật dài cắm ngay lập tức khi Khroutchev đến.

Trái nghi thức thông thường, Mao đón ông ta ở bể bơi có mái của Mao trong Trung Nam Hải.  Sai lấy xịp  (quần tắm)  cho Khroutchev rồi cả hai bồng bềnh dưới nước chuyện trò đại sự. Khác hẳn Khroutchev đón tiếp Mao linh đình trọng thể ra sao năm 1957.  Lần này Khroutchev sang vì ngại Mao đánh Đài Loan sẽ nổ chiến tranh với Mỹ. Biết thóp, Mao cân não lại. 

Trước một đồng minh háo đánh Mỹ như Mao, Liên Xô bèn cố thuyết phục bằng vi thiềng lợi ích vật chất.  Đề nghị:  l)  Lập một đài phát sóng cực mạnh hai nước cùng dùng nhưng đặt ở trên đất Trung Quốc; 2) Lập một hạm đội hỗn hợp Xô - Trung cùng bảo vệ vùng bỉển hai nước;  3)  Trung Quốc khoan giải phóng Đài Loan. 

Mao nhận hai khoản trên nhưng không chịu hoà bình với Đài Loan:  -  Các đồng chí chớ can thiệp vào sứ mệnh thiêng liêng của nhân dân Trung Quốc. 

Mao biết chạy đua vũ trang quá bở hơi tai, Khroutchev muốn kéo Trung Quốc vào cuộc hòa hoãn với Mỹ. Nhưng Mao lại có chủ định của Mao. Không thể hai phe mà phải tam quốc hiện đại.  Trong khi chưa thành tam quốc mới được thì mở ra ba thế giới  -  các nước không liên kết.  Ta không cầm cân nảy mực cho các ngươi thì thôi chứ lại?

Khroutchev cũng khuyên chớ nên làm công xã nhân dân nhưng Mao bảo đó là con đường tiến  lên chủ nghĩa cộng sản đặc thù của Trung Quốc.  Ý nói con đường các cậu sai rồi không lên được chốn đó đâu.  Một dạo ở ta, chiểu tinh thần Mao, Lê Duẩn nói nếu Việt Nam có sức sản xuất như Liên Xô thì đã cộng sản đứt đuôi từ lâu.  Ở Liên Xô, chế độ lương cáchxa nhau quá đã ngăn cản tiến lên cộng sản.  Duẩn khoe ở Việt Nam lương tổng bí thư với lương cơ bản hơn nhau có mấy chục đồng!  Có sức sản xuất như Liên Xô, Việt Nam đã cộng sản từ tám hoánh!

Nay mới thú thật.  Lúc ấy tôi đã ngầm cho một câu:  “Tổ sư bốc phét!” 

Thất bại, Khroutchev về nước sớm trước mấy ngày. Hội nghị trung ương Bắc Đới Hà liền họp.  Ra đời Tổng lộ tuyến mà ta mựơn chỉ một mẩu là  “nhiều, nhanh, tốt,  rẻ”  và thực tế hóa ra “hiếm, chậm, tồi, đắt.” 

Ba ngọn cờ hồng là:  đại nhảy vọt, gang thép nhân dân và công xã nhân dân.  Mao có ý bao cấp cả cho toàn dân, xóa bỏ chế độ lương bổng  -  trong quân đội xoá bỏ lon gù, nhất loạt một mẩu phù hiệu đỏ  -  đúng như chế độ cộng sản các tận sở năng các tận sở nhu, cái mà Khroutchev gọi là  “chủ nghĩa cộng sản mặc quần đùi.” 

Công xã nhân dân công hữu hóa búa xua hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt, nồi niêu, xoong chảo, thau chậu, phích nước nóng... Ra đồng làm, tới bữa tối thì đến nhà ăn tập thể lĩnh phần cơm và phần nước nóng ngâm chân rồi toàn gia ăn uống, bế bồng, ôm ấp, mai lại ra đồng từ sớm.  Trẻ con vào nhà trẻ, người già vào nhà dưỡng lão.  Có công xã lập trại con gái riêng, con trai riêng, vợ chồng tháng tháng gặp nhau ăn nằm theo lịch công xã đặt, tùy theo độ tuổi mà dầy thưa khác nhau.  Báo đăng câu Mao ca ngợi:  cái ưu  Việt  của công xã là nắm được hoàn toàn dân chúng trong tay. 

Ông đã nuôi ý định công xã hoá cả thành thị.  Để nắm cho không sót thằng dân nào. 

Tôi đã thăm mấy nhà dưỡng lão trong đó một nơi làm cho tôi buồn hơn cả là của công xã  nhân dân tại nhà máy thủy điện Mai Sơn, tỉnh An Huy.  Một lán nứa dài trong một rừng nứa rậm, một dẫy sạp nứa dài và cao lênh khênh, ọp ẹp làm giường (có lẽ sạp cao thế này là để các cụ không thể tụt xuống trốn đi).  Khoảng ba chục cụ ngồi ngơ ngẩn nhìn khách tham quan đến chiêm ngưỡng  “hạnh phúc” của các cụ. Tất cả đều ủ dột, đều con mắt vô hồn dửng dưng và đều co chân cao đến ngực và đặc biệt đều tăm tắp mấy chục cẳng chân phù to tướng, căng bóng, những mặt hàng chĩnh bày trong triển lãm. 

Tôi bỗng thấy chúng là những cái bình đựng thư cầu cứu mà trong bão tố, thủy thủ đem vất cầu âu vào sóng...  Già quá, không lê nổi đến nhà ăn, mà có đến nổi nhà ăn thì hết sức chen hàng, nhiều cụ đành chết đói. 

Phải có bằng chứng về tính ưu việt của công xã chứ! Bằng chứng  dễ thuyết phục và dễ kiếm nhất là năng suất lương thực. Lập tức báo chí đăng không kịp  “sản lượng vệ tinh” - ở nghĩa lên cao vút - ầm ầm vượt nhau. Bắp cải nặng một tạ ba, muốn xài thì phải lấy cưa mà kéo cưa lừa xẻ chứ dao nào chặt cho lại? Lợn một con đứng chật cả thùng xe cam nhông cỡ nhỡ. Một mẫu ruộng  (bằng một phần ba mẫu Việt Nam)  500 tấn khoai. Lúa mì 60 tấn... Một nhát các thứ cây trồng biến ra thành toàn là Phù Đổng Thiên Vương hết. Một hôm báo đăng ảnh một tràn ruộng lúa chín với những đứa trẻ nô nhảy ở bên trên.  Và Mao Chủ tịch liền nổ lệnh: Ta cho các người từ nay ăn hẳn năm bữa một ngày! 

Phóng viên Việt Nam thông tấn xã kiêm tình báo Lê Phú Hào đi tham quan đồng lúa kiêm  “sân chơi trẻ con”  về đến ngay trường bảo tôi đó là trò bịp.  Anh theo nhà báo nước ngoài tụt xuống thì ngỡ anh là đồng bào, người ta giữ anh lại sợ đông quá sập liếp độn ở bên dưới:  cắt lúa chín ở nơi khác về cắm chi chít lên trên. 

Tôi nói chuyện này với anh bạn  “bà sói răng to.”  Anh nói anh biết.  Dân Trung Quốc bây giờ có  hai điều dặn nhau.  Một là sau Tam phản, Ngũ phản thì sợ tiền.  Tiền là nguồn của tội ác.  Nghèo đói mới sạch sẽ, vẻ vang.  Thà ăn cỏ xã hội chủ nghĩa chứ không thèm ăn cơm gạo tư bản.  Nay sau chống phái hữu, người Trung Quốc sợ thêm sự thật.  Sự thật là nguồn gốc của bất hạnh, chết chóc. Đã muôn người đều sợ sự thật thì cũng lại muôn người thi nhau nói phét.  Có người nói ở Trung Quốc bây giờ chỉ phản cách mạng mới còn cái đức nói sự thật, nghe sự thật.  Còn toàn là hoan nghênh vờ, tin tưởng vờ, hăng hái vờ.  Toàn  dân nói phét, chui niu, thổi trâu, mà biết tỏng nhau là nó đang nói phét, vui phét hệt như mình... 

Tôi lạnh người. Anh nói tiếp: 

-  Mình có một ông chú họ làm đội trưởng ở công xã. Trên bắt ông khai vống lên lấy sản lượng vệ tinh. Ông không nghe, sợ khai man nộp hết thì đói. Thế là bị đánh gẫy hai hàm răng. 

Cứ nhè mồm đánh bắt nhận  “vệ tinh.”  cuối cùng đầy mồm máu khai man.  Nhờ đó được chữa không tiền cái tay bị đánh què nhưng răng thì đắt quá thành ra từ nay ông chú chỉ nuốt không nhai. Sư  tha  t pha i nuo  t, nhai gẫy răng ngay. Cứ thả cửa nói phét rồi bạo lực giáng xuống cho thật khoẻ vào là cái giả toàn thắng. 

Tôi bắt đầu  “hư hỏng”  vì đã nhận ra chân tướng đại bịp. Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp hèn trong con người:  sợ và tham lam.  Sợ thì thỏa được lòng tham.

Tham danh, tham lợi, tham tước.  Mà sợ rồi thì dối trá nào cũng thành sự thật, bồ hòn nào cũng ngọt, đồ tể nào cũng Đức Phật Như Lai. 

Nên nói tiếp đến phong trào nhân dân luyện gang thép. 

Công đầu là Tăng Hy  Thánh, ủy viên trung ương, bí thư tỉnh An Huy. (Ông đã tíếp đoàn báo Việt Nam chúng tôi ở Hợp Phì, nơi Hàn Tín điểm quân và tôi đã đến đó.)  Ông cho dựng dọc đường xe lửa Mao sẽ đi qua các lò cao luyện thép.  Lò rừng rực lửa như hội hoa đăng, dân gang thép múa ương ca tưng bừng bên cạnh.  Lãnh tụ hả cái bụng quá.  Bèn đề ra mục tiêu gang thép vượt Anh, vượt Đức, vượt Nhật rồi Mỹ cuối cùng. Từ Thủy Tỉnh  -  Hà Bắc, một huyện có 31 vạn dân đã đề ra mục tiêu  “tiến lên chủ nghĩa cộng sản trong ba năm,”  vụ hè vừa thu  hoạch được 45.  000 tấn lương thực, đã đề ra mục tiêu sản xuất 1,1 triệu tấn ngay trong vụ thu tiếp theo  (tăng gấp hơn 24 lần, bình quân đầu người 1,8 tấn). Phải ra sức thu gom sắt phế liệu, có thể tháo dỡ các đường sắt tạm thời không có giá trị kinh tế như đường sắt Ninh Ba, đường sắt Giao Đông. 

Tôi không tham gia tuy sinh viên phải nghỉ học làm gang thép đầy trong campus. Tôi mơ hồ thấy chẳng khác nào lột áo quần ra xé tơi rồi đem bật lại thành bông, xe lại thành sợi để dệt nên thứ vải chất lượng khốn nạn hơn nhiều.  Không hiểu sao nhìn các quả đấm cửa bằng sứ trắng có lõi sắt người ta quẳng vào chảo quấy, đảo, tôi cứ nghĩ đó là những con ngươi mắt mỗi hộ dân gửi đến để trừng trừng nhìn mà đặt ra câu hỏi đơn sơ: các người làm trò gì đây?

Màn bịp gang thép rồi cũng xếp xó. Nhưng để cho Mao chủ tịch Người vui lòng vẫn phải giữ lại 60 triệu lao động túc trực bên cạnh các lò cao hao tài hại của... 

Lại trở về Hội nghị trung ương Bắc Đới Hà.  Ngoài Tổng lộ tuyến, hội nghị còn cho ra một cách khiêu chiến mới đối  với Mỹ cốt phá hoà hoãn của Liên Xô với Mỹ.  Hội nghị bế mạc được một tuần, lục địa bắn luôn đại bác vào hai hòn đảo Kim Môn, Mã Tổ của Đài Loan nằm ở gần bờ biển Phúc Kiến.  Kim Môn chỉ xa chừng hai cây số, trong ngày đầu nhận 89. 000 quả pháo.  Ngày hôm sau  thêm lên 40. 000 quả nữa.  Căng thẳng cực độ. Chiến tranh như sắp nổ ra từng ngày. 

Mỹ cho hai tàu sân bay tới, cộng vào bốn chiếc đã có sẵn. Và trên một chiếc có đậu một máy bay ném bom A3D.  Khi cần, boong tàu sẽ mở ra và một thang máy liền dâng một quả bom nguyên tử để gắn vào bụng chiếc A3D kia cho nó bay đi quẳng xuống Bắc Kinh hay Thượng Hải, Nam Kinh, Hàng Châu, Quảng Châu gì gì đó. Phóng viên báo Time lộ ra như thế. Liên Xô liền phải đánh tiếng nếu Mỹ dùng nguyên tử với Trung Quốc thì Liên Xô buộc cho lục địa Mỹ xơi nguyên tử. Phần nào đã thoả mãn về cục diện gay gắt do mình gây ra, Mao bèn đổi sang một kiểu bắn mới:  nếu Mỹ không can thiệp thì chỉ bắn hai hòn đảo kia vào ngày lẻ. 

Thế giới tưởng Mao phất cờ giải phóng Đài Loan đến nơi nhưng ông bảo Lý Chí Toại, bác sĩ riêng: - Ai đánh làm gì? Còn Đài Loan đó thì còn đoàn kết nội bộ chứ giải phóng nó rồi thì kiếm đâu ra cái gậy nào để múa lên cho yên nội bộ được đây?(trong hồi ký  “Đời tư  Chủ tịch,”  The President’ s Private Lifecủa Lý Chi Toại.)  

Thế  nhưng nhiều người lại đinh ninh ông rừng rực lửa căm thù đế quốc, lửa giải phóng dân tộc, lửa chi viện của đại hậu phương rồi đội ông lên và đến xin ông một chút tâm hồn... Rồi theo cờ ông chỉ mà xông lên đánh. 

* * *

Một sáng, An Cương, phó tổng biên tập Nhân Dân nhật báo đến nói chuyện với lớp báo chí.  -  À, xin hỏi, tôi vừa đi Ba Lan về. Nay nơi nào xét lại nhất các đồng chí?

Sửng sốt hết. Vừa bỏ mũ xét lại cho Nam Tư trở về với phe xong thì sao nay lại xét lại?

- Ba Lan, nước tôi vừa mới đến đó. 

Kể ra một lô những tệ nạn xã hội, ăn chơi, nhảy đầm, thoát y vũ, thoát ly chính trị, sùng bái phương Tây...  Cảnh giác các đồng chí, mất cách mạng, mất đảng vì cái xét lại này.  Hở tay hở đùi là nguy cho chế độ rồi đó... 

Với tiêu chuẩn chia ra trại đàn ông với trại đàn bà thì ăn nằm xả láng với nhau đúng là phản cách mạng thật. 

Tôi không ngờ đời tôi bắt đầu bị yểm chính là từ hôm nghe thấy hai chữ xét lại ấy. 

Hai bóng ma Mỹ, Đài Loan chưa đủ cho Mao bắt được ai cũng phải nem nép ở dưới cái gậy ông vung lên.  Ông  phải thêm cho một bóng ma  “xét lại”  nội bộ đảng và phong trào cộng sản. Bên ngoài, ông nhắm Khroutchev còn ở trong nước ông nhòm đến Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ và Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình từng cho hê “tư tưởng Mao Trạch Đông.”  Hai vị chống Mao quá hiền lành liền bị Mao gọi luôn cho là Khroutchev Trung Quốc thứ nhất là Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình là Khrouchev thứ hai.  

Biết Liên Xô đang oải trong chạy đua vũ trang với Mỹ, dân đầy bất mãn, thất vọng, Mao bèn kêu gọi phá chớp nhoáng trật tự  thế giới bằng một cuộc  “cải cách ruộng đất trên toàn hành tinh.”  Địa chủ, cường hào ác bá là đế quốc Mỹ cùng phương Tây, bần cố nông là các nước nhược tiểu có vấn đề với Mỹ, chẳng hạn Việt Nam.  Hay mưu lật đổ của Đảng cộng sản ở Indonesia rồi bị Sukarno trấn áp thảm sầu. 

Mao đầu tiên hỏi thăm láng giềng Ấn Độ.  Trả miếng vụ Ấn cho Dalai Latma tị nạn và che đi yêu cầu độc lập gay gắt của Tây Tạng.  Buộc Liên Xô hoặc theo Trung Quốc thì mất liên minh Xô - Ấn, hoặc bênh Ấn thì lòi mặt “xét lại.” Đến 1963, 64 thì Liên Xô bênh Ấn Độ, Hà Nội chửi Ấn Độ và Nerhu có dã tâm chiếm đất Trung Quốc. 

Hà Nội hình như hay phù suy, chống thịnh…  Đặng chống Mao bằng mèo trắng mèo đen, Mao chống Đặng bằng hồng chuyên thì Hà Nội lại phát động cả nước hồng chuyên. Thủ tướng Đồng đăng một bài rất dài ca ngợi hồng chuyên trên Nhân Dân. Sau này Dương Thượng Côn “chống diễn biến hòa bình” để ngáng Giang Trạch Dân lên tổng bí thư thì ta cho dịch quyển “chống diễn biến hoà bình”  -  Chủ mưu là đế quốc Mỹ, và phát làm cẩm nang cho tất cả đại biểu dự Đại hội đảng 7.


CHƯƠNG MƯỜI MỘT


Tháng 5 năm 1959, đoàn báo Việt Nam sang thăm Trung Quốc, tôi gia nhập đoàn.

Một sáng vào Trung Nam Hải.  Trung Quốc  “giải phóng” Tây Tạng.  Dalai Latma ngồi bò  yak  trốn sang Ấn Độ, cổ tay đeo chiếc Rolex do Tổng thống Roosevelt tặng, thời cờ năm sao chưa cắm trên đất Lhassa. Phong nhã, đẹp, Chu Ân Lai lên án và giải thích chính nghĩa của Trung Quốc.  Đều khách nước ngoài, phần lớn là các  “nhà cách mạng”  thường trú Bắc Kinh.

Mãi sau tôi mới hiểu lớp thực khách Xuân Thu Chiến Quốc đời mới này sẵn sàng hô vang khẩu hiệu đại loạn của Bắc Kinh. Ở các hội nghị Á Phi chống xét lại, ở Hà Nội, các chân gỗ không chằng không rễ chuyên đánh trống trận bằng mồm xúi thiên hạ loạn li tơi bời này thuần chỉ có tác dụng thổi ống đu đủ và rồi đều bị quẳng vào sọt rác hết.

Thình lình Mao hiện ra. Cao lớn, trắng hồng, từ tốn. Đi như khẽ xê dịch, kiểu như biết mình càng chậm thì người ta càng được ngắm nghía và người  ta càng thích.  Thong thả ngả người ra ghế, một chỏm tóc sau gáy liền vổng ngay đuôi gà, nếp tóc nhờn bết của những người ít tắm gội và nằm là chính.
Hai bàn tay đặt trên thành ghế thật đẹp. Tôi nghĩ ngay tới các tối chủ nhật, Trung Nam Hải thường đón các  cháu nữ sinh Trường Múa đến khiêu vũ cùng chủ tịch.  Hồng Linh nói các bạn đi về bảo Chủ tịch thích ôm eo chứ không đỡ lưng.

Mao nói.  Ngồi nói.  Nói ngọng vì giọng Hồ Nam.  N thành L, R thành L.  Thí dụ Hội phụ  lữ  Việt  lam lổi lận,  -  Hội phụ nữ Việt Nam nổi giận. Và s thành x.

Hôm ấy Mao mở miệng chửi  xà  -  lù  (tiếng Pháp: salaud,salopard:  đồ đểu  -  BT)  thủ tướng Ấn Độ.  Dám cho Dalai Latma đến sống nhờ trên đất Ấn Độ mà không bắt giao nộp Bắc Kinh.

-  Nie he lu, ta xi xen mo len? Ta xi ban len ban gui dì, ban liu mang  ban len xi tì...  (Đúng ra phải là  Nie he lu, ta shi shen mo ren?  Ta shi ban ren ban gui dì, ta shi ban liu mang ban ren shi di...  Nehru là người thế nào?  Hắn là nửa người nửa quỷ, nửa nhân sĩ nửa lưu manh.)

Trước đó không lâu Bắc Kinh ca ngợi vị  nhân sĩ này là đồng tác giả với Indonesia của năm nguyên tắc chung sống hòa bình.  Khi xấp mặt thì bạn lớn đều hóa ra súc vật hay côn đồ.

Định cắm cho cái kim vào đít Khrouctchev và nay ôn tồn, thư thả rủa Nehru thế mà vẫn kêu gọi toàn thế giới đoàn kết lại. Tôi bắt đầu ngán ông. Đơn giản từ khi tôi bập vào bài tố cáo tội ác Stalin, từ lúc Mao công khai nói ra mẹo ác nhử rắn của ông…  Không đến gần ông để chụp ảnh.  Chả biết Việt Nam bé tẹo thì ông coi ra cái gì, tự nhiên vận vào đất nước mà thấy sờ sợ.  Bỗng  nhớ Cụ Hồ đã nói ai sai thì sai chứ Mao Chủ tịch và Stalin thì không thể nào sai được.

Sau đó chúng tôi xuống miền Nam.  Thăm nhà Tôn Trung Sơn và Lỗ Tấn ở Thượng Hải, thăm mộ Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh. Ông lập nên Trung Hoa Dân Quốc với tấm hộ chiếu công dân Hoa Kỳ ở trong túi  -  ngày nay người ta sẽ la làng lên là ông “diễn biến hòa bình,” “tay sai đế quốc Mỹ.”

Rời Thiệu Hưng quê Lỗ Tấn,  chiếc Mercedes thẳng chiếu núi Cối Kê mờ xa phóng đi.  Trên xe Thép Mới bảo tôi:  -  Tao thích thơ mày, tao lăng  -  xê lên  báo nhưng Ồng Kễnh gọi bảo thơ Trần Đĩnh là kiểu Trần Dần, không được, tao đành thích thơ mày ở trong bụng vậy. Khen vệ tinh nhân tạo đầu tiên mà mày viết  ‘Con người ném gương lên treo giữa các vì sao, ngửng đầu soi thấy mình đẹp quá’  thì Kễnh không xài được.

Con người chung chung là đếch được, chiến thắng vô sản lớn thế mà lại cho con người trừu tượng vào... (Kễnh là Tố Hữu.) Phản ứng tức thì của tôi là tôi đếch cần Kễnh.  Ơ kìa, ngày nào tai tôi nghe Kễnh bị Trường Chinh nhận xét mặt như hai ngón tay chéo lại học đòi ngậm píp như Nguyễn Tuân…

Báo Nhân Dân vừa đăng một bài thơ của tôi viết về những cao ốc mới mọc.  “Xây những ban công giữa trời và những vườn hoa trong óc...”  Dưới chân cao ốc mới, một bà đẩy xe nôi.  “Anh cúi thơm má chú, rồi hôn vào gót chân, mai kia qua gót chú, anh hôn các tinh cầu...” và Kễnh lắc.

Người chỉ dịu đi khi thăm vùng chè Long Tỉnh.  Những nương chè hai bên con suối Hổ Chạy  -  từng hõm sâu dưới dòng nước, dấu vết chân con hổ chạy để lại. Trên đỉnh đồi um tùm cây, một quán trà thô  sơ kiểu cổ. Người phục vụ múc lên một bát sứ nước suối Hổ Chạy chìa ra trước mặt chúng tôi. Như có một sức thần bí ở lòng bát, tự nhiên mặt nước phồng nổi lên thành một mặt kính sáng quắc che đèn pha xe hơi.

Người phục vụ đặt lên trên chỗ nước doi cao nhất  một đồng hào thiếc. Nó nổi và lênh đênh ngao du. Mặt nước có thêm cái nhũ hoa bỗng biến thành một bầu vú lung linh…  

Mấy hôm sau, viếng mộ Phạm Hồng Thái ở Hoàng Hoa Cương, một phó tổng biên tập báo ta hỏi bạn nhà báo Trung Quốc ở cạnh: “Chắc đồng chí liệt sĩ đây cũng quê ở Hồ Nam?” Kiểu ở ta thì Nguyễn Thái Học quê Nam Đàn.

* * *

Chia tay với đoàn báo về nước ở Nam Ninh, tôi ngược Bắc Kinh cũng với chánh văn phòng Nhân Dân nhật báo.

Mấy hôm sau đến Văn Nghệ báo, cơ quan của Văn Liên (Hội liên hiệp văn  học nghệ thuật)  cũng quanh quẩn Nhân Dân nhật báo ở Vương Phủ Tỉnh thực tập.

Tôi muốn đi sâu tìm hiểu văn học Trung Quốc và nhất là qua nó nhìn rõ hơn động thái chính trị của đảng. Tại sao đảng lại hay cho sóng gió nổi lên trước ở trong văn nghệ?

Tại đây  tôi đã được thấy mặt các đại bút đại danh Trung Quốc như Ba Kim, Lão Xá, Mao Thuẫn, Tào Ngu, Hạ Diễn. Báo đều kỳ mời các vị đến chỉ giáo tình hình và kế hoạch bài vở. Mỗi khi Lão Xá nói tôi lại ngỡ ông đang trình tấu mẫu chuẩn tiếng Bắc Kinh ông cất gửi  tại Viện đo lường quốc gia.  Nhìn
ông và Ba Kim, tôi cố mường tượng ra dấu vết nước Anh, nước Pháp hồi các ông bên đó, dạy học bên đó.  Không thấy. Lão Xá nom quá sơ sài.  (Thì cũng không một dấu vết nào cho thấy những ngày tháng đen tối khốn đốn mai hậu của các ông. Ai ngờ nổi sau này Lão Xá bị Hồng Vệ Binh đánh chết quẳng xác ra ven một cái hồ ông hằng yêu mến.  Ông nằm bên hồ, phủ một tấm chăn.  Người ta mời vợ ông ra.  Bà toan vén chăn nhìn mặt chồng lần cuối thì người ta đẩy bà ra: - “Xem có phải đúng là giầy chồng bà không?  -  Đúng!  Thế hả, được rồi.” Nhìn chồng lần cuối không được, chôn cất chồng không xong.  Ai ngờ được trong mười năm giam cầm, hành hạ, Ba Kim sẽ
nhảy tưng tưng, giơ tay hét  “Đả đảo Ba Kim  “để rồi sau này, hồi tưởng lại, ông phải kêu lên rằng ông có ăn cháo lú đâu mà có thể há mồm hô đả đảo ngay chính mỉnh, có thể cam tâm để cho kẻ khác tước đoạt mất quyền làm người của mình mà không hề có chút mảy may nào phản ứng…

Diệp Quần, một nữ biên tập viên coi mảng điện ảnh, hay tha tôi đến đại sứ quán Liên Xô xem phim chiếu nội bộ và chả thứ gì lưu lại ấn tượng mạnh bằng bà biên tập viên văn nghệ hết sức Tây phương. Tân kỳ, trẻ, xinh xắn và rất diễn viên, rất diện.  Toàn giầy da kiểu  escarpin  đế mỏng mầu sô cô la, đỏ, nâu, trắng...  Sau này nghe vợ Lâm  Bưu là Diệp Quần, tôi giật mình:  ngay ngày ấy tôi đã ngờ chị là vợ một cốp to lắm.  Cung cách sang trọng, điệu đà một cách hào sảng và tự tin như vậy ở Bắc Kinh là phải có một bối cảnh chính trị lớn như thế nào. Tôi có hai anh bạn thân là biên tập viên của báo.

Một hôm hai anh nói mai chi bộ các anh nghe Chu Dương, Bộ trưởng tuyên truyền trung ương đảng truyền đạt một chỉ thị quan trọng của Chủ tịch.  Tôi đề nghị cho tôi nghe boóng. Các anh nói sẽ xin ý kiến đảng ủy tờ báo.  Chiều các anh bảo tôi trên Bộ tuyên truyền trung ương đảng nói không nên vì tôi là đảng viên nước ngoài.  Nhưng hứa sẽ cho tôi biết tinh thần chỉ thị.

Hai hôm sau, giờ cơm trưa, hai anh và tôi ra phố.  Hai anh lộ ra cho hay cái chỉ thị có thể gọi là chỉ thị   “bom nguyên tử ném thì ném, không sợ!”  Chủ tịch nói chúng nó cứ doạ bom nguyên tử.  Hòng buộc chân trói tay chúng ta lại mà.  Việc gì phải sợ? Vì Mỹ dẫu cho có ném xuống một nghìn quả bom nguyên tử, dẫu trái đất có bị tan hoang đi nữa thì ít nhất cũng còn sót lại một huyện dân Trung Quốc,  huyện dân ấy sẽ đi ương lại giống người trên quả đất này... 

Tôi rợn người.  Sợ cái tính toán chi li này hơn cả sợ bom nguyên tử.  Cũng thoáng một chút ghen tị:  thế ra Trung Quốc sẽ được đi cấy tái giá lại giống người trên quả đất.  Trong khi những Lào, An - ba - ni thì trống huếch trống hoác còn Việt Nam may lắm trời cho sót lại vài ba anh đực rựa vô dụng vì teo hết nhẵn hai hột tinh hoàn.

Chỗ nghe, nghe sang tai, ở gần cửa hàng quốc tế, kiểu cửa hàng cạnh Phú Gia, Hồ Gươm Hà Nội. Chỗ này đường bảy tám chục mét rộng, thoáng đãng, gần Vương Phủ Tỉnh mà tôi thấy ngạt thở.  Ở cửa hàng này tôi hay bị người coi cổng đẩy ra, nghi tôi đồng bào cải trang giả làm nước ngoài vào mua lậu gấm với nhung đem ra bán lại.  Một lần tôi bảo anh ta:  “Người Trung quốc chúng ta không có thói xấu nhận vơ là người nước ngoài đâu đấy nhớ!”  Anh ta ngẩn ra nhìn tôi.  Tôi vào lượn một vòng quay ra nói:  “Kan, mei mai shen mo!  Trông đấy, không mua cái gì cả. (Kỳ thật không có tiền.)

Hôm nay nhìn nó tôi nghĩ mai kia toàn thế giới đều Triệu,Lý, Trương, Vương cả với nhau thì hết sợ lầm đồng bào với dị bào.

Chuyện  “chỉ thị quan trọng”  này về nước tôi có nói với Nguyễn Tuân.  Tuân bảo các nhà văn ta cũng được nghe Hoài Thanh truyền đạt là cho dẫu Mỹ có ném đến một nghìn quả bom nguyên tử xuống  cũng không sợ.  Tuân bèn giơ tay hỏi thưa anh con số một nghìn là anh phát trỉển lên hay vốn sẵn như thế ạ? thì Hoài Thanh đỏ mặt nói tôi nghe truyền đạt của trung ương, có ghi sổ cả đây. Rồi Tuân bình:

-  Này cái hệ thống loa dọc nhà này xem ra thông suốt  đáo để.  Xa có đến năm nghìn, đến thế không?  Ừ, xa có đến năm nghìn cây lô mếch mà họ truyền đạt cấm có sai lấy cho nhau một con dê - rô... 

Hai anh bạn ở Văn Nghệ báo đã gíúp tôi gặp Lâm Mặc Hàm, phó bí thư đảng đoàn Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Trung  Quốc; Hạ Kính Chi, phó tổng biên tập Văn Nghệ báo và Trương Quang Niên, cây bút lý luận quan trọng của báo, thường ký tên Mã Tiền Tốt. Ông đã cùng quân Tưởng vào Việt Nam ngả Lào Cai năm 1945,  “cờ đỏ đầy Hà Nội lúc bấy giờ, đẹp lắm,” ông bảo tôi.

Các ông  có lòng mời tôi dạo Di Hoà Viên.  Trưa lên quả núi có Phật Hương Các, vào một khách sạn ngồi ăn ngoài trời ngắm cảnh hồ nước, núi rừng...

Lúc bấy giờ công xã nhân dân đã mạt kỳ.  Nhưng  “phong trào thơ xã viên”  vẫn được nuôi.  Mỗi lao động mỗi sáng ra đồng đều phải nộp đủ chỉ tiêu bao nhiêu bài thơ (tuỳ đảng ủy mỗi công xã đặt).  Không nộp đủ thì về, ngày ấy không công điểm.  Các báo ra xã luận ca ngợi thiên tài thơ ca của nông dân.  Thi nhau đăng thơ xã viên mà đặc điểm là rất giống nhau.  Ta là Ngọc Hoàng, Ta là Đại địa, Ta làm nên tất cả...  Ta là Lão Thiên, ta là Long Vương, ta đào núi, ta lấp biển.  Ta là Đại hải, ta là Thái dương, ta không sợ thánh thần cùng ma quỷ... Nếu là nhà thơ nhóc con thì Ta là Na Tra...

Tức là một tập hợp bách khoa toàn thư văn vần dành riêng cho một từ TA để cho toàn dân định nghĩa. Ta là tinh tú, ta là sao chổi, ta là nguyên tử, ta là sấm, ta là sét...  Tựu chung vơ lấy mọi sức mạnh tự nhiên, siêu nhiên.  Có một nét không ai dám ví tới.  Đó là không bao giờ nhận mình là đảng, là Chủ
tịch, là ta bảo đảng tiến, ta vẫy đảng đi.  v.  v.  Còn được một chữ sợ làm trần cho mọi vi vu bay bổng.  Nhận mình là thiên địa rồi tự hào vì sức mạnh đó, ấy là lãng mạn cách mạng.  Còn sau đó ta theo ngọn cờ đào, ta theo Chủ tịch, ta san núi, ta dịch sông, ta là  người lính tốt của Mao Chủ tịch thì đó là chủ nghĩa hiện thực cách mạng.  Mao để ra phương pháp sáng tác chủ nghĩa hiện thực cách mạng kết hợp với chủ nghĩa lãng mạn cách mạng là nhằm phang chết tươi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Stalin bắt Gorki soạn thảo.

Chúng tôi hôm ấy đả phá sai lầm trong văn học nhưng không ai dám nói đến chữ tả khuynh.  Chữ ấy vẫn còn hào quang chói lòa và thiêng liêng của nó. Đặng Tiểu Bình chưa ra mắt để tổng kết cách mạng Trung quốc chủ yếu là tả khuynh và thật ra chính tả khuynh có hại hơn hữu. Lâm Mặc Hàm bạo nhất thì hôm ấy nói:  -  Proletkul, trò văn hoá vô sản nực cười đã chết giấp ở Liên Xô từ những năm 20 thế mà người ta lại đào mồ cho trỗi dậy ghê gớm như thế này ở Trung Quốc thì đáng sợ thật...

Hôm ấy chúng tôi đúng  là cùng một lứa chân trời phủ nhận.  Đến Cách mạng văn hoá cả ba ông đều điêu đứng.  Tôi sớm hơn.

Nhưng rồi cả ba lại tái xuất giang hồ khi Đặng hạ Mao xuống.  Hạ Kính Chi lên thay Vương Mông làm bộ trưởng văn hóa sau vụ 4 tháng 6 năm 1989 tàn sát sinh viên  ở Thiên An Môn.  Vương Mông phái tự do của Triệu Tử Dương, Hạ Kính Chi phái bảo thủ của Dương Thượng Côn.  Tới khi Dương Thuợng Côn xuống thì Hạ Kính Chi lại thôi bộ trưởng.  Dương phản đối Đặng Tiểu Bình, phản đối Đặng đưa Giang Trạch Dân là dân sự lên chứ không phải nhà binh.

Nên nói một ít đến Vương Mông.  Năm 1957, ông viết truyện  “có một ngưởi trẻ tuổi đến vụ tổ chức.”  Bị phê phán tơi bời.  Bôi nhọ, đả kích công tác tổ chức của đảng...  Đang ầm ầm thì Mao phán là tôi đã đọc, quyển sách tốt đấy, in ra có sao.  In nhưng người liền biệt tích.  Miền tây xa thẳm hàng chục năm trời chăn cừu cuốc đất cho tới khi Đặng Tiểu Bình trỗi dậy hú hồn cho sống lại tất cả xét lại, hữu, đi đường tư bản tái xuất giang hồ.  Hồ Diệu Bang thảo kế hoạch nhân sự mới: Vương Mông làm bộ trưởng văn hoá...

Những Hồ Phong, Lâm Ngữ Đường, Hồ Thích, Lý Tông Ngô, Du Bình Bá…  phản động đều được sạch sẽ trở lại.  Hồ Phong làm cố vấn cho Bộ văn hoá, nghe đâu tiền lương truy lĩnh và bồi thường danh dự nhiều quá xá.  Thấy đảng sòng phẳng, ăn tiêu  ra người lớn, Hoa kiều mạnh bạo rót tiền và chất xám về...

* * *

Di Hòa Viên về, tôi viết thư cho Trường Chinh.  Nhận xét đảng ta hay bắt chước Trung Quốc mà Trung Quốc thì rất tả khuynh...

Trường Chinh trả lời. Tự tay anh viết chữ Trung Quốc  (rất đẹp)  trên phong bì.  Cảm ơn tôi.  Đề nghị tôi nghiên cứu thêm mấy vấn đề như văn nghệ sĩ đi vào thực tế, chủ nghĩa hiện thực cách mạng kết hợp chủ nghĩa lãng mạn cách mạng.  Nói đã chuyển thư tôi sang Tố Hữu để anh ấy nghiên cứu.  Cuối thư viết tôi phê bình đảng ta “tắp lắp của Trung Quốc nhiều là rất đúng.” Nguyên nhân vì sùng bái nước ngoài, vì trình độ lý luận thấp và vì kém tổng kết kinh nghiệm.

Tôi không nghiên cứu hai vấn đề anh đề nghị. Thấy vô bổ. Lúc đó tôi chưa biết Trường Chinh đã bàn giao quyền tổng bí thư cho Lê Duẩn. Nghĩa là anh có thể nghĩ tôi phê ta tắp lắp Trung Quốc quá xá là nói móc anh - như nhiều thân tín cũ của anh đã quay dáo  -  nhưng anh tin tôi lòng thành yêu mến anh
và hơn nữa biết tôi không phải thứ người cạnh khoé.

Tháng 8, nhận bằng tốt nghiệp, chuẩn bị về nước.  Quá bịn rịn.  Không chỉ với Linh còn ở lại thêm vài tháng mà bịn rịn với cảnh với người Trung Quốc. 

Chi bộ họp phiên cuối cùng rồi giải tán.  Nhận xét tôi phải hết sức cảnh giác tư tưởng lập trường, về nước tôi rất dễ phục vụ giai cấp tư sản như  “bọn” Nhân Văn  -  Giai Phẩm.  Rất tức nhưng cố nín.

Nhà trường biết tôi không có thứ đựng đồ đạc, chăn màn, sách vở đã mua cho một thùng gỗ thông vừa đập hòm xong. Ra ga tiễn tôi có Hồng Linh, hai bạn biên tập viên và một chị ở văn phòng Văn Nghệ báo. Chụp ảnh ở sân trường…

Các anh chị, tôi không thể nào quên.  Giả như những năm sau đó các anh chị có hô lạc điệu đi nữa, tôi cũng chẳng giảm tình.  Nói thế thôi chứ chắc chắn các anh chị đều không thoát cảnh nạn nhân.  Từ ngày chúng ta quen biết nhau và thường loanh quanh vùng Vương Phủ Tỉnh mỗi trưa, tôi đã biết các anh đứng ở đâu trong bảy “phản” mà cách mạng văn hóa phải tiễu trừ rồi.

Trên tàu gặp vợ chồng Hồ Bản Anh, phân xã trưởng Tân Hoa Xã Hà Nội.  Nửa tháng sau, Hoàng Tùng chiêu đãi họ, tôi dự.  Bản Anh ố to một tiếng và như tụt mất cả kính trắng kêu lên:  -  Thế ra là người Việt Nam?  Tôi cứ tưởng người Trung Quốc!...  Chui cha...,  tiếng Trung Quốc nói đẹp quá,  shuo di ken piao liang... Lại tưởng người Trung Quốc chứ...

Piao liang là đẹp.

Có thể tôi đẹp tiếng nói. Nhưng đẹp lời thì không. Hai năm sau, tôi lao đao: ngọng lời Mao Chủ tịch. Người đã thành đại giáo chủ, đầu tàu - gió - đông. Con chiên xóm đạo lẻ thường sùng đạo hơn con chiên thành thị thì phải.


CHƯƠNG MƯỜI HAI


Du học năm năm được những gì?

Được gần gũi và biết và mến phục một dân tộc vĩ đại, một văn hoá vĩ đại.

Được nói một ngôn ngữ nhiều người nói nhất hành tinh.

Được một người vợ tôi hết sức yêu rồi tôi làm khổ.  Một lần thấy bố mẹ bất hoà, con gái sáu tuổi oà  khóc.  Tôi bế cháu ra búi tre sau túp lều tranh lụp sụp làm nhà mà nói:  -  “Nhà ta có gì không tốt, không hay xảy ra là do lỗi bố.  Khi con chưa biết nói, bố đã nhận lỗi với mẹ, tự mình chủ động nhận lỗi với mẹ.  Nay con biết khóc chuyện nhà thì bố chủ động nhận lỗi với con...”  con gái vừa thút thít nấc vừa gật.  Tôi mừng vì như thế là nó có cái lượng khoan dung của mẹ...  Người từ phút đầu tiên hát  “chàng buông vạt áo em ra...”  thì cuối cùng cam đèo bòng với tôi mọi tội mọi nợ, mặc dù bản thân cũng đầy oan trái, thương đau, vạt áo đầy nước mắt.

Và được là đồng chí đương thời lặng thinh mà đầy thiện cảm, đầy xôn xao cuồng nộ của  “phái hữu”  Trung Quốc, những người lận đận tù đày hàng chục năm ròng mới mở ra đuợc cánh cửa của Trung Quốc, mới thôi kết thù mà làm  bạn tươi tỉnh với thế giới.  Nhờ họ, khát vọng tự do, dân chủ thêm bền vững trong tôi.  Đạo quân mênh mang những nạn nhân vĩ đại ấy dạy tôi trước tiên không được bội bạc nỗi trầm luân của con người.  Bức trường lũy đồng loại trần ai nêu lên cho tôi tấm gương dám nhận về mình khổ ải.

Được đi từ Bắc chí Nam cái đất nước ở đó con gái như ngọc như hoa trong những Đại Quan Viên, những Mái Tây Sương rất sớm biết xăm xăm đi lên đòi dân chủ.  Đất nước biết nhờ hạt gạo làm long thuyền chở cả một bài phú đi ngao du bát  ngát.  Đất nước cần tự diễn đạt đã mượn mu rùa làm bia phát nghĩa.  Cần ra khỏi ranh giới bản thân đã chế la bàn. Cần giữ bền ranh giới đã tạo máy báo địa chấn.  Cần tính tần số vui buồn của nhân sinh đã mượn cát đo thời gian.  Đất nước có Hồng Lâu Mộng, Kim Bình Mai, Nhục Bồ Đoàn...,  tiểu thuyết đầu bảng tính dục của loài người.  Nhà sách Jean Pauvert, Paris dịch in đúng 500 cuốn.  Đánh số từ 1 đến 500. Các chữ  “âm hộ”  không dịch.  Để nguyên Hán tự in đen.  Đen ánh. Các chữ “dương vật” để nguyên Hán tự in đỏ. Đỏ son. Rải rác trong từng trang chữ la tinh đơn tuyến, chúng lập thể nổi lên như núi như gò, đẹp vượt hết mọi hoa văn, họa tiết. Những huyệt tử sinh, những mắt triện anh ánh âm dương ngũ hành, những con mắt nhấp nháy xui đồng lõa...

Nhưng cuối cùng phải nói sau năm năm du học tôi bắt đầu thấy đuợc một điều khôn lớn nhất:  hãy cảnh giác với thần tượng và bỏ thần tượng!  Do đó hãy tin trước hết ở lương tri, bản chất mình, gắng là chính mình, chớ nghe sai phái.  Do đó dám phê phán, dám lên tiếng và dám chịu đựng...  Cái đó nhờ phong trào phái hữu - mà tôi say sưa, sung suớng chứng kiến-  phủ nhận chủ nghĩa xã hội, độc quyền lãnh đạo, những mỹ tự có tính bùa phép khiến một lớp người ít ỏi bỗng trở thành thần thánh.  Phong trào chống sùng bái cá nhân ở Liên Xô tôi tiếp  nhận tại Bắc Kinh.  Rồi kế theo là phong trào đòi dân chủ của phái hữu Trung Quốc. Trong ngoài giáp công, có thể nói.

Cảm ơn… Cảm ơn...

Nhưng kìa

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Bạch vân thiên tải không du du...

Một hay hai bài đấy nhỉ? Hỏi làm gì? Đều tịch mịch và bạch vân mây trắng vi vu trong trống không cả mà thôi...


CHƯƠNG MƯỜI BA


Thép Mới đón ở ga.  Xích lô chở cái thùng gỗ thông đựng sách Tàu ngất ngưởng và tôi.  Thép Mới đạp xe bên cạnh. Lên gác gặp ngay tổng biên tập. Câu đầu tiên Hoàng Tùng hỏi là:  -  Mao xếnh xáng thu về được hết âm binh chưa? Có trắng tay chuyến này không?

Ở trong nước Mao Trạch Đông đang là  “chàng cả lố.”  chế diễu ông ta là bằng chứng của người Mác - xít, Lê - ni - nít. Tôi thì không chế, nhưng sau vụ chống phái hữu, tôi chẳng còn mặn mà với ông.

Ngày hôm sau Nguyễn Thành Lê, phó tổng biên tập báo tin Trường Chinh mời tôi.

Tôi rất xúc động.  Năm năm rồi.  Lần cuối gặp anh bên cây vả rừng dáng rất Tahiti của  Gaughin, một ống bương dẫn nước róc rách, mùi lá cơm nếp và Tâm, cô gái địa phương đẹp cả một vùng biết tiếng đứng nghển chân trên đẳng cười với tôi, bất chấp tổng bí thư đang phủ dụ đi học.

Tôi nói mấy lần anh qua Bắc Kinh tôi không đến chào vì ngại phiền anh.  Anh bảo từ nay cứ đến gặp, anh cũng muốn chuyện trò với tôi.  Cứ đến và báo tên ở cửa là được, trừ phi anh đi vắng.

Nhưng anh liền hạ ngay giọng, chằm chằm nhìn tôi, hỏi khẽ: - Anh có biết vì sao đồng chí Bành Đức Hoài bị kỷ luật?Không ngờ đến câu hỏi này, tôi hơi lúng túng:  -  Thưa anh cũng là nghe bạn bè Trung Quốc thôi, nhưng trong họ cũng có người là đảng viên hay gia đình là cán bộ cao cấp…  Theo họ thì vì Bành Đức Hoài viết thư phê phán Cụ Mao quen nghênh ngang thói thái thượng hoàng chỉ biết  phán người nay cuồng tiến tiểu tư sản làm tan hoang tất cả lên rồi thì phải ngồi nghe người ta phán lại.  Vụ Bành Đức Hoài cho thấy mâu thuẫn to trong lãnh đạo cao nhất. Nổ ra từ Hội nghị Lư Sơn.  Nhật thực từ nay thường trực...

-  Khoan...,  cái gì nhật thực...  À, tôi hiểu.  Mao Trạch Đông thôi chủ tịch nước. Dân chúng nghĩ sao?

-  Nói chung bàng hoàng.  Ngồi nghe loa thông báo đầy ở bên đường trong sân trường, sinh viên nom âm thầm lắm.

Sau vụ chống phái hữu mọi người rất kín đáo, không ai dại bày tỏ thật mình ra...

Trường Chinh cũng biết Hội nghị Lư Sơn.  Nhưng lúc ấy anh không thể biết chỉ hai ba năm sau, tại cũng một hội nghị Lư Sơn, Mao sẽ nói tới “cuộc đập tan những đòn tiến công của chủ nghĩa xét lại.” Lúc ấy nào ai rõ Mao ám chỉ đến những cải cách  (đòn tiến công)  của Lưu Thiếu Kỳ  (hay là Khroutchev Trung Quốc 1),  Đặng Tiểu Bình  (hay là Khroutchev Trung Quốc 2).  Hướng diệt kẻ thù mới này  -  chủ nghĩa xét lại  -  rồi làm chỏng vó cả Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình.  Rồi Trường Chinh.  Rồi một thế hệ nạn nhân trong đó có tôi.  Mao cựa mình để đổi thế ngồi thoải mái đều bắt chết theo cả đống. Sáng ấy tôi hỏi thăm Ðặng Việt Nga, cô con gái cưng của anh.” À, học ở Liên Xô. Có bạn trai rồi... nhưng tôi không thích cậu này, người khu 5...” 

- Người khu 5? Tôi khẽ hỏi lại.

- Không, cậu này gạo cụ mà tôi thì không thích gạo cụ.

Một phát hiện bất ngờ mà lý thú nên tôi mới kể ở đây.

Sau này có khi nghĩ lại chuyện này, tôi lại thầm hỏi:  -  Thế mà sao Trường Chinh lại gạo cụ với Lê-nin, Stalin như thế? Cơ quan báo  nay đã thay đổi cơ bản.  Về nhân sự và về cả nhân cách.  Từ trên rừng đi thẳng ngay ra nước ngoài học năm năm, tôi đã bỏ qua một giai đoạn quan trọng hình thành và phát triển tâm tính thơ lại:  tất cả sao cho thủ trưởng vui lòng để được đề bạt, tăng lương.  Ở  Atêka, không có chế độ lương, đi học thì hưởng trợ cấp học trò.  Những ngoắt ngoéo mới nảy sinh ở đằng sau các dịp đề bạt, tăng lương tôi thật sự ngu ngơ.  Trở lại cơ quan vô tư như thuở ở rừng, tôi không ngờ tới lòng đố kị và các ngón đòn hiểm đang chờ.  Người ta cho rằng Hoàng Tùng, Thép Mới ưu ái tôi chẳng qua vì tình cảm  “cánh hẩu”  căn cứ địa với nhau mà thôi.  Họ xét nét tôi mà tôi không hay.  Cũng đâu có hay một thường vụ tỉnh ủy nay là trưởng ban ở báo mỗi lần sắp gặp Hoàng Tùng lại ghé mắt nhòm lỗ khoá xem trước vẻ mặt tổng biên tập.  Vui vẻ thì gõ cửa, lầm lì thì đi giật lùi xuống cầu thang, chờ lát nữa lại hồi hộp lên trở lại. Cho nên họp ké ban biên tập góp ý cải tiến báo, hết ghế, tôi ngồi lên tay ghế bành của tổng biên tập thì liền thành cái gai cắm  vào mắt nhiều người.  Tôi khó tránh khỏi dèm pha, điều mà sắp tam thập nhi lập tôi vẫn chưa được nếm mùi vị.

Đi một người tôi nhớ: Kỳ Vân. Sang tạp chí Học Tập.

Tháng 10, Hồng Linh về nước.

Tháng 1 năm 1960, sáng ngày 29 lấy làm 30 Tết Canh Tý, chúng tôi cưới nhau.  Thép Mới, Phạm Lợi, vụ trưởng tổ chức làm chứng chờ ở quán ông lão bán bánh mì hằng sáng cho quan viên nhà báo và các cô làm đầu hai hiệu Tân Trang, Miwaco.  Tám giờ, bốn người sang Ủy ban Hành chính Khu Hoàn Kiếm xế tờ báo ký tên. Ba phút xong đám cưới. Được tin tôi sắp lấy vợ, Hoàng Tùng bảo tôi cần xe hơi (chiếc Pobieda duy nhất ở báo của tổng biên tập)  hay hội trường thì cơ quan cho mượn. Tôi nói chỉ ra ủy ban.

- Vậy thì cơ quan in biếu thiếp mời hay báo hỉ, cái này cần đấy, Hoàng Tùng nói.

- Cảm ơn anh, tôi không báo ai cả, - tôi nói.

Một thoáng rất nhanh tôi thấy trong mắt Hoàng Tùng xổ tuột ra hết chiều dài một cỗ thước dây.  Xem vẻ chưa đủ cho anh đo độ quái đản.

Mẹ Linh và Trần Châu, anh cả  “quyền huynh thế phụ”  đều không biết Linh và tôi cưới nhau lúc nào.

Chẳng cái gì thuận chèo mát mái mãi.

Một sáng tôi ở chỗ Tố Hữu về tới vườn hoa Hàng Đậu thì thấy Phạm Văn Khoa đạp xe đi đến bên.”  Thép Mới nó bảo mày lấy vợ bí mật...” , - Khoa nói. Này, từ nay mày phải gọi tao là bố! Vợ mày là con gái thằng Cúc bạn chúng tao ở Hải Phòng ngày xưa đấy.  Tao với nó cùng dạy học, tao tiếng Pháp, nó tiếng Tàu.  Lê Giản, tao và nó dạy học ở Hải Phòng mà.  Mày có biết chuyện chúng nó mười ba thằng bị giết oan hồi cuối 1947, đầu 48 không?  Mỗi đứa một cũi chó nhốt trong.  Thằng Nguyễn Công Thành, bí thư Tuyên Quang hồi ấy bảo tao là thấy chúng nó ở trong cũi nhìn ra mà nó muốn khóc.  Toan liều mở cũi đánh tháo cho chúng nó mà không dám .  Cùng tù Sơn La với nhau mà.  Nhất là thằng Ưng Khầy Mùi.  Lý Ban tố cáo chúng nó là đặc vụ của Tưởng vì muốn gạt chúng nó để nổi lên thành tổng đại bài của Trung Quốc ở ta. 

Tới nhà thờ Tây Đen, Hàng Gà, anh nói tiếp:  -  Lý Ban như thế nào tao đâu lạ.  Tao giúp cho nó sống và bố vợ mày có công rất to trong việc ấy.  Lý Ban lúc ấy  trốn khủng bố ở Quảng Đông, chạy sang ta.  Tìm đến trụ sở báo Cờ Giải Phóng ở Hàng Bồ mà tao là chủ nhiệm.  Ông Trường Chinh bắt chủ nhiệm báo tiếp dân hằng ngày như kiểu báo Pháp nhưng ông ấy ngồi tiếp thì lo Tàu Tưởng nó  “cõng”  đi, vì thế cho nên tao mới  phải làm hình nhân thế mạng.  Một sáng một cha xưng tên Lý Ban gặp tao xin liên hệ với Đảng cộng sản Đông Dương. Tao báo cáo. Ông Trường Chinh dặn cảnh giác. Đặc vụ Tưởng có thể vờ để chui vào nội bộ ta.  Cho nên tao lờ đi.  Thì hắn lại đến.  Mời tao đến khách  sạn Đồng Lợi lấy một tờ giấy trắng cất kỹ trong va  -  ly mây ra nói  “tây chấng chỉ  của tôi, tòông chí tem  nó về tưa  cho tổ  chấc  thì  tòông  chí sẽ  pết.”  Tao đem về đưa cho chính bố vợ mày lúc ấy phụ trách kỹ thuật của tổ đặc nhiệm tại nha công an của Lê Giản. Bố vợ mày xem nói đây là tỉnh ủy viên Quảng Đông, tên Lý Ban...  Như thế tao hỏi mày, có phải là tao, bố vợ mày cứu thằng Lý Ban không? Nhưng rồi Lý Ban nó báo cáo đám Ưng Khầy Mùi là đặc vụ Tưởng.  Ta thịt nghiến luôn cả lũ.  Lý Ban có giấy của cộng sản Trung Quốc, bọn Mùi thì chỉ có giấy An Nam, thua nhau chỗ ấy, cái chỗ sùng ngoại, mày hiểu không.  Tao đề nghị mày cứ
hỏi trung ương thế này là ra hết sự thật, đúng, hỏi nếu bố vợ mày là đặc vụ Tưởng thật thì sao xem giấy Lý Ban nó dại gì mà không đổ vấy cho  Lý Ban là đặc vụ để ta thịt ngóm?  Nay vu đặc vụ cho bọn Mùi thì lẽ ra phải biểu dương”  đặc vụ  “đã có công giúp đảng vớ được Lý Ban để đưa vào Trung ương đảng chứ?  Bây giờ mày làm đơn kiện đi.  Tao cùng ký, với tư cách bạn bè chúng nó và nhân chứng.

Nghiện  đọc trinh thám Mỹ, Anh, Pháp, tôi ớ ra.  Đúng, trong một vụ án chỉ cần một chi tiết lô -  gích như của Khoa là phá được bao bí ẩn. Nhưng làm gì có chuyện phá án với đảng. 

Khoa rất chân tình và bất bình. Phần đông nạn nhân trong vụ này là bạn thân của anh.  Tôi rất cảm động.  Nhưng tôi lờ mờ thấy việc kiện sẽ rất khó.  Khoa là nhân chứng nhưng thiếu trọng lượng:  anh có tên Khoa Tếu do chính Cụ Hồ đặt. Anh đằng thằng có thể lên rất cao nhưng như Kỳ Vân, anh thích tự do. Hai nữa, Lý Ban sắp vào trung ương. Bắc Kinh cần thêm tiếng nói.  Thứ ba nữa, tôi ngại, một thứ ngại rất chung chung, mơ hồ.  Như thuở bé chiều hôm nhìn đỉnh núi Yên Tử mù mịt mà thấy huyền bí và sờ sợ.

Tối hôm chúng tôi cưới nhau, Hoàng Tùng mời đến nhà anh ăn tất niên.  Trong bữa ăn, Nguyễn Thành Lê báo Trường Chinh mời vợ chồng tôi sáng mồng một Tết lên nhà anh ấy.

Từ đấy theo lệ, sáng mồng một Tết tôi phải đưa Linh đến nhà Trường Chinh.  Năm 1962, vui chuyện, khi Trường Chinh hỏi thăm bố mẹ Linh, tôi nói luôn, cũng là để xem thái độ Ðảng: - Con của Hồng Tông Cúc, anh ạ.

Tôi không ngờ Trường Chinh biến sắc nhanh như thế.

Anh tái mặt và lùi xa Linh ra.  Vụ án mười mấy cán bộ người Trung Quốc vẫn còn lưu lại ấn tượng sâu sắc.  Qua thái độ Trường Chinh, tôi thấy đúng là giết oan nhưng đồng thời  lại thấy như vậy thì khó lòng mà minh oan nổi.

Sau đó Tết tôi không đến nữa.  Tôi đã thành xét lại, sợ Mỹ, sợ chiến tranh. Trường Chinh còn nhờ Quang Đạm nhắn tôi là“không ngờ Trần Đĩnh sa đọa chính trị đến như thế.”  Trong khi tôi lại không ngờ anh sa đọa nhanh như vậy, đầu hàng nhanh như vậy.

* * *

Như đã nói ở trên kia, lúc mới về nước, tôi không hiểu rằng bước vào cơ quan là tôi bước vào quan lộ chông gai. Cho nên thấy người ta gọi tôi” thày Tàu” tôi cho là chuyện vui đùa, không phản ứng.  Anh em không  thích Mao thì mượn tôi để chế Mao và như thế là tốt chứ sao.  Tôi bắt đầu ngờ ngợ và khó chịu khi thấy họ nâng cấp tôi lên thành  manh piê,  -  tay chân của Hoàng Tùng.  Tôi chưa biết với nhiều người ở cơ quan tôi đang là đối tượng cần hạ gục.

May sao được Mao Chủ tịch… cứu.

Người phất cờ đánh xét lại.  Cái bàn cờ thế giới gồm hai phe trong đó Trung Quốc chỉ đóng vai phò tá, Mao phải phá để lập nên một bàn cờ Tam Quốc mới với thêm chân kiềng Trung Quốc.  Mao kỵ Liên Xô từ lâu.  Còn tôi thì kị Mao từ Chống Phái Hữu và Gang thép, Công xã Nhân dân… Và vẫn ôm nguyên vẹn trong lòng mối thiện cảm to lớn đối với những chiến sĩ  -  đúng hơn, những hiệp sĩ, hiệp khách  -  đòi dân chủ tự do mà người ta gán cho cái tội Phái Hữu rồi trấn áp, đày đọa.

Nhờ Mao phất cờ giáo chủ  mới, tôi lập tức bị tước danh hiệu”  thày Tàu,”  biến thành  “thằng láo chống Cụ Mao.”  Đám hôm qua mỉa tôi  “thày Tàu”  hôm nay nhao nhao ùa theo lãnh tụ  oa  -  la  -  din  (tiếng  Pháp  origine:  chính gốc  -  BT),  đạo chủ thiêng liêng trong cuộc chống xét lại vô cùng hiển hách.

Tôi nói đến hai chuyện gây ấn tượng mạnh với tôi lúc đó.

Vì trực tiếp đụng tôi.  Và qua đó thấy người ta trở mặt nhanh thế nào.

Một hôm Hoàng Tùng đưa tôi một quyển sách chữ Hán mỏng trên Cụ Hồ gửi xuống bảo tôi theo đó viết bài.  Đó là chuyện  một Bạch Mao Nữ thật ở miền Nam Trung Quốc. Chuyện xoàng nhưng có hơi Cụ Hồ nên người ta thêm ghét. Sáng hôm báo đăng bài này, tôi vừa đến cổng cơ quan thì đã thấy mấy người ăn bánh mì ở quán ông già trước cửa báo đang cười chế tôi. 

Tiếng Hữu Thọ át tất cả: “Dạ, thế ra pên Tồ ngổ nó lại có ké(cái)  sớm mùa xoan.”  Mọi người khoái trá cười theo.  Ở trong bài tôi có viết sấm xuân.

Hữu Thọ lại nói:  -  Thế này là thày nhập cảng  pẹ  (mẹ)  nó ké ké (cái) sớm xoan pên Tồ vào ké nước ngổ tây. Nông nghiệp ké nước ngổ thế này thì chết pỏ ké con pà nó mất, hí hí hí...

Tôi đã toan đứng lại hỏi:  -  Thế  “Lúa chiêm nấp ở đầu bờ, Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”  thì là sấm hè hay đông?Nhưng im, chợt hiểu ra quán ăn này là nơi sáng sáng người ta mượn làm câu lạc bộ đến  ngồi xúc miệng bồi dưỡng nghiệp vụ vắng mặt đồng chí để hạ thủ đồng chí.  Đời quá nhìều o ép thì kiếm chỗ chửi văng mạng cho xả cơn ẩn ức.

Nói vậy nhưng tôi rất lạ. Không hiểu tại sao người ta lại có thể quay ngoắt nhanh đến thế, có thể bảo vệ bạo chúa Stalin như xưa đến thế, có thể cứ nhìn Mỹ, Anh, Pháp, Nhật là những kẻ thù phải tiêu diệt bằng vũ trang đến thế.  Lúc ấy chưa đọc hồi ký Lý Chí Toại, bác sĩ riêng của Mao nên tôi chưa biết Mao đã bảo Lý rằng phải nuôi kẻ thù trong cũng như ngoài, chẳng hạn ngày ngày hô giải phóng Đài Loan thì mới yên được để cầm quyền.  Dân ngột ngạt thì Mao cho xả van hờn căm vào ngả khác, chẳng hạn xả vào xét lại Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tỉểu Bình. Mà Mao lúc đó đang nuôi chí phục thù, quyết dẹp những Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình từng làm nhục ông.

Lúc ấy, 1960, Hữu Thọ mới cán sự 5 ban nông nghiệp.

Trần Minh Tân, người đưa Hữu Thọ lên báo còn giấu chuyện Hữu Thọ lai Tàu.  Theo Minh Tân, bố Hữu Thọ gốc Hoa nhưng láu đời, biết đảng kỵ ngoại nên anh ta giấu dòng máu . Mãi sau này, Minh Tân mới nói cho tôi hay.

Còn một người hầm hè tôi nữa mà tôi hoàn toàn bất ngờ. 

Một trưa từ cơ quan về nhà tập thể ở ngõ Lý Thường Kiệt, tôi đang đi ở hông bệnh viện Việt - Đức thì thấy Hà Đăng vượt lên đi ngang.  Anh đỏ gắt mặt phê bình tôi:  -  Anh kiêu ngạo lắm, anh không nói chuyện với tôi.

Tôi ngẩn ra thì anh đã đạp vút đi.  Lần đầu cất lời nói với tôi là phê phán. Và không cho cãi.

Rồi hai ông này đều tổng biên tập, đều trưởng ban tư tưởng văn hoá trung ương, và đều cất lời là phê phán, bắt ne bắt nét phần hồn của toàn đảng toàn dân và có nhiệm vụ ngăn chặn mọi đối thoại chứ chưa nói đến cãi.  Chữ  “đối thụi” của Lê Đạt là tả môi trường đối thoại tê liệt của đất nước.

Khi các ông vào tuổi xưa nay hiếm thì chuyển sang làm trợ lý cho các tổng bí thư.  Đám nhà báo nói các ông 75, 76 tuổi vẫn theo tổng bí thư vào Sài Gòn và dù các ông có mặt cũng không ai giới thiệu, ra ý miệt thị rõ ràng.  Nhưng vẫn quyết trụ ở bên bám hơi các cụ tổng đến cùng.

Từ giữa những năm 1990, báo Nhân Dân xuất hiện một tác giả ký Nhân Đăng. Thật tình không biết là ai, nhưng kỵ với người coi mình là thừa sáng để đi soi lối cho thiên hạ, tôi đã gửi một thư cho Nhân Đăng đề nghị báo chuyển giúp.  Viết rằng cái tên Nhân Đăng không hay, nó gợi đến các nô tỳ thị nữ ngày xưa đội đèn cho bọn quyền quý tiệc tùng hưởng lạc. Đèn, từ đèn trời, đèn biển đến đèn dầu, đến que tăm xiên hạt bưởi khô thay cho đèn đều hay nhưng đèn người thì xấu, tác giả nên thay đi.

Hỏi thăm anh em ở báo, mới biết đó là Hà Đăng. Lúc ấy tôi lại chợt thấy  “đăng”  còn là  “lên cao, đăng cai.”  Và ghế...  (Sau không thấy tên “đèn người” này nữa.)

Hữu Thọ Vina Mưu nay lấy tên Nhân Nghĩa, mỗi số Nhân Dân cuối tuần đều được dành một chỗ cùng nhuận bút chắc là cao ráo.  Một lần thấy một quyển sách của anh mới xuất bản  -cái gì tự nhận trí tuệ cao mắt sáng tim đo đỏ gì đó  -  ở hiệu sách, tôi vội quay đi.  Không thấy chữ.  Chỉ thấy con mắt láo liên và đôi môi mỏng dính.

Và xin vượt thời gian  bốn chục năm.  Cuối 2009,báo điện tử Vnn phỏng vấn nhà báo lão thành cách mạng.  Nhà báo lão thành nói “Phải chống im lặng đáng sợ.”

Ôi. Mở mặt nhờ bưng bít sự thật, xuyên tạc sự thật thì nay hô phá vỡ nó.  Một bạn lão thành bảo tôi viết bóc cái mặt nạ hắn ra đi, tôi cuời:  -  Bao la hề, ông dẹp sao cho hết?  Vả có để hề bao la thế thì dân mới có chỗ để ghét mà đứng dậy chứ ông?