Thông tin chứa trong những trang sau đây không phải là tập hợp những điều suy diễn được suy ra do nghiên cứu. Tôi đang mang lại cho độc giả tri thức mà tôi đã thu được nhờ ưu ái hơn là do nỗ lực. Mặc dù vậy nó không kém phần có giá trị; ngược lại tôi dám tuyên bố rằng người ta sẽ thấy nó có giá trị vô cùng lớn lao hơn vì tôi đã thu được nó một cách dễ dàng hơn bất kỳ kết quả nào theo chiều hướng tương tự mà tôi có thu được bằng các phương pháp khảo cứu thông thường ngay cả khi tôi có được ở mức độ cao nhất trình độ học giả về Đông phương học, điều mà tôi tự cho mình là có.
Mọi người nào quan tâm tới kho tài liệu Ấn Độ, hơn nữa bất cứ người nào ở Ấn Độ mà quan tâm tới việc trao đổi với những người bổn xứ có văn hóa về những đề tài triết học, đều biết rằng ở Đông phương nói chung, người ta tin có tồn tại những đấng còn sống biết rất nhiều điều về triết học theo nghĩa cao siêu nhất của từ này – tức là khoa học hay tri thức chân chính về những sự việc tâm linh – hơn bất cứ mức nào mà người ta thấy có thể được ghi lại trong bất kỳ quyển sách nào. Ở Âu châu, ý niệm bí mật được áp dụng cho khoa học làm cho bản năng thịnh hành cảm thấy dội đến nỗi mà khuynh hướng đầu tiên của các tư tưởng gia Âu Tây là chối bỏ sự tồn tại của những điều mà họ không thích như thế. Nhưng trong khi tôi cư ngụ ở Ấn Độ, có những trường hợp bảo đảm chắc chắn cho tôi rằng niềm tin vừa nêu là hoàn toàn có cơ sở và cuối cùng tôi có đặc quyền nhận được rất nhiều giáo huấn về tri thức cho đến nay là bí mật mà các triết gia Đông phương đã âm thầm suy gẫm mãi cho tới tận ngày nay. Cho đến nay, giáo huấn này chỉ được truyền thụ cho những môn đồ đồng cảm, đã chuẩn bị sẵn sàng di trú vào môi trường bí mật. Các bậc đạo sư thỏa mãn nhiều hơn mức tất cả những nhà nghiên cứu khác bỏ lửng lơ cho dù có bất cứ điều gì quan trọng hay chăng cần phải được học hỏi với họ.
Thoạt đầu tôi không có thiện cảm với bất cứ người nào cứ ôm khư khư lấy cái chính sách cũ của Đông phương liên quan tới tri thức, tuy nhiên sau đó tôi đâm ra nhận thức được rằng cái kiến thức Đông phương cổ điển đó bản thân nó lại là một kho báu rất thực và rất quan trọng. Người ta có thể lấy cớ là những chùm nho ở trên cao ắt là chua chừng nào mà chúng còn ở ngoài tầm với của mình, nhưng thật là điên rồ khi cứ khăng khăng bám lấy ý kiến đó nếu một người bạn cao nhòng đã hái được một chùm nho xuống và người ta thấy rằng nho ngọt ngào.
Vì những lý do sẽ lộ rõ ra khi các lời giải thích sau đây được tiếp diễn; cho nên một số lớn những giáo huấn bí mật mà quyển sách này bao gồm cho đến nay đã được truyền thụ cho tôi chẳng những là phải vô điều kiện theo ý nghĩa thông thường mà còn với một mục đích rõ rệt là tôi phải đến lượt mình truyền thụ nó cho thế giới nói chung.
Nếu không có ánh sáng của cái tri thức Đông phương cho đến nay còn bí mật đó thì bất kỳ sự nghiên cứu nào về kho tài liệu đã được công bố bằng tiếng Anh hoặc tiếng Phạn cũng không thể giúp cho các sinh viên ngay cả có đủ tư cách học giả nhưng không thể đạt tới được sự hiểu biết những giáo lý nội môn và ý nghĩa thực sự của bất kỳ tôn giáo Đông phương nào. Lời khẳng định này không nhằm khiển trách những người viết văn có tài ba đồng cảm, bác học và cần cù, họ đã nghiên cứu các giáo lý Đông phương nói chung và Phật giáo nói riêng chỉ theo những khía cạnh bên ngoài. Phật giáo trước hết là một tôn giáo mà ngay từ khi được du nhập vào thế giới này thì đã có một sự tồn tại lưỡng tính. Các sinh viên chưa được điểm đạo không biết được những ý nghĩa nội môn thực sự của giáo lý, còn giáo lý ngoại môn chỉ được trình bày cho đại chúng dưới dạng một loạt về các bài học đạo đức và một tài liệu theo biểu tượng ẩn giấu, ám chỉ tới sự tồn tại của tri thức ẩn đàng sau.
Thật ra thì tri thức bí mật này đã có từ lâu rồi trước khi Đức Phật Thích Ca giáng trần. Hàng thời đại trước khi Đức Phật ra đời, triết lý Bà la môn đã thể hiện cũng cái giáo lý đó mà giờ đây chúng ta có thể mô tả là Phật giáo bí truyền. Quả thật là những nét phác họa của nó đã bị mờ đi; dạng thức hợp khoa học của nó đã phần nào bị lẫn lộn; nhưng có một thiểu số người được tuyển chọn đã có được đại khái cái tri thức đó trước khi Đức Phật đâm ra lại đề cập đến nó. Tuy nhiên, Đức Phật đã đảm đương cái nhiệm vụ duyệt lại và đổi mới khoa học bí truyền của giới điểm đạo đồ nội môn cũng như là khoa đạo đức đối với thế giới bên ngoài. Công trình này đã được thực hiện trong những tình huống mà người ta hoàn toàn hiểu lầm, muốn giải thích thẳng thắn nó để cho người khác hiểu được thì trước hết cần phải cung cấp một bảng lược thuật về chính khoa học bí truyền đó.
Từ thời Đức Phật mãi cho đến nay, khoa học bí truyền nêu trên đã được giữ rất bí mật, coi như một di sản quí báu độc quyền thuộc về các thành viên điểm đạo chính qui của những đoàn thể đã được tổ chức một cách bí mật. Xét về Phật giáo thì đây là Chư A la hán hoặc đúng hơn là La hán mà kho tài liệu Phật giáo có nhắc đến. Các ngài là những điểm đạo đồ đã đạt “thánh quả thứ tư” mà các tài liệu Phật giáo bí truyền có nói tới. Khi đề cập đến vô số nguyên bản và những thẩm quyền bằng tiếng Bắc phạn, ông Rhys Davids có nói: “Người ta có thể viết đầy những trang sách với những lời ca ngợi ghê gớm và ngất ngây chứa chan trong những tài liệu Phật giáo khi nói tới tâm trạng này, thánh quả thứ tư, trạng thái A la hán của một người đã trở nên hoàn toàn theo đức tin của Phật giáo.” Thế rồi khi trích dẫn một loạt những thẩm quyền tiếng Bắc phạn thì ông lại nói rằng: “Đối với đấng nào đã đi trọn con đường, đã vượt qua được phiền não, đã giải thoát được về mọi khía cạnh, đã dẹp tan được mọi xiềng xích, thì không còn sự bồng bột hoặc đau khổ nữa . . . Đối với những đấng đó không còn phải tái sinh nữa . . . Các ngài được nhập Niết Bàn. Các ngài đã làm cạn kiệt hết nghiệp cũ và không tạo ra nghiệp mới, tâm hồn các ngài không còn khao khát kiếp sống tương lai, không một mơ ước mới mẻ nào lộ ra trong tâm hồn các ngài, vì vậy các ngài trở nên minh triết và những mơ ước đó tắt phụt đi giống như một ngọn đèn bị thổi tắt.” Dù sao đi nữa thì những đoạn văn này và những thứ đại khái như thế đã truyền đạt cho các độc giả Âu Tây một ý tưởng hoàn toàn sai lầm về việc một vị La hàn thực sự là một loại người nào, về việc ngài sống một cuộc đời như thế nào trên trần thế và sau này ngài tiên liệu được điều gì. Nhưng trong lúc này ta có thể trì hoãn việc soi sáng cho những điều đó. Trước hết ta có thể tuyển chọn thêm một số đoạn văn nữa trong những bộ khảo cứu công truyền để chứng tỏ người ta thường giả định một vị La hán nghĩa là gì.
Khi nói tới Jhana và Samadhi – tức là niềm tin rằng có thể nhập lưu một cách kiên cường nhằm đạt được các thần thông – ông Rhys Davids tiếp tục nói như sau: “Theo như tôi biết người ta chưa ghi nhận một trường hợp nào có một thành viên của dòng tu hay một đạo sĩ khổ hạnh Bà la môn đạt được những thần thông này. Đức Phật luôn luôn có được những thần thông đó; còn hiện nay không rõ các vị La hán chính hiệu cho dù là Tì khưu, La hán hay là Chơn sư có thể làm được những phép lạ đặc biệt nêu trên.” Cho đến nay có rất ít nguồn thông tin về đề tài mà chúng ta đã thăm dò này tỏ ra là minh bạch. Nhưng hiện nay, tôi chỉ cố gắng chứng tỏ rằng kho tài liệu Phật giáo đầy dẫy những điều ám chỉ về sự cao cả và thần thông của chư La hán. Muốn biết rõ hơn về những điều này, thì người ta phải ở trong những hoàn cảnh đặc biệt cần được giải thích rõ ràng.
Trong tác phẩm Đức Phật và Phật giáo nguyên thủy, ông Arthur Lillie có cho chúng ta biết rằng: “Người ta trông mong rằng vị đạo sư khổ hạnh sẽ đạt được lục thông trước khi ngài chứng quả vị La hán. Trong kinh điển thường ám chỉ tới lục thông này mà không chỉ rõ thêm nữa . . . Con người có một cái thân tứ đại . . . trí tuệ của y bị xiềng xích trong cái thân phù du này; vị đạo sĩ khổ hạnh vì thấy mình bị hôn trầm như thế cho nên mới điều khiển tâm trí để tạo ra Mạt na thức (Manas). Y dùng tư tưởng để tạo ra cho mình một thể khác bắt nguồn từ cái thân vật chất này – cái thể đó cũng có một hình tướng, cũng có tứ chi và lục phủ ngũ tạng. Cái huyễn thân này liên hệ tới cái nhục thân cũng giống như thanh gươm với cái vỏ gươm, hoặc cũng giống như con rắn chui ra từ cái giỏ lưới mà nó bị bao bọc trong đó. Lúc bấy giờ vị đạo sĩ khổ hạnh đã được tẩy trược và đã hoàn hảo bèn bắt đầu thực hành các thần thông. Y có thể thấy mình đi xuyên qua những chướng ngại vật như những bức tường, thành lũy v. v. . . y cũng có thể cùng một lúc phân thân ra nhiều nơi . . . y có thể rời bỏ thế giới này và thậm chí lên tới được cõi trời Phạm thiên . . . y có được khả năng nghe thấy những âm thanh của một thế giới vô hình cũng rõ ràng như âm thanh của hiện tượng giới, thực ra nghe còn rõ hơn nữa. Cũng nhờ vào quyền năng của Mat na thức y cũng có thể đọc được những tư tưởng thầm kín nhất của người khác và biết được tính tình của người ta.” Có những minh họa tương tự như vậy. Ông Lillie đã không tiên đoán chính xác được bản chất của sự thật ẩn đàng sau cái phiên bản bình dân này của các sự thật; nhưng ta cũng không cần phải trích dẫn thêm nữa ở đây để chứng tỏ rằng thế giới Phật giáo đã sùng kính sâu sắc quyền năng của chư La hán và sự giác ngộ của các ngài về những sự việc tâm linh; cho dù bản thân các vị La hán tuyệt nhiên không màng tới việc dành cho thế gian những bản tự thuật hoặc những bài tường thuật khoa học về lục thông” (the six supernatural powers).
Tiện đây tôi có thể trích dẫn một vài câu trong bản dịch mới đây của ông Hoey đối với tác phẩm Đức Phật: Cuộc đời, Giáo lý và Dòng tu của ngài của Tiến sĩ Oldenberg; thế rồi chúng ta có thể nói tiếp. Chúng ta đọc thấy như sau: “Triết lý truyền khẩu của Phật giáo có vô số đoạn gán cho việc vị thánh vẫn còn sống trên trần thế rằng ngài đã nhập Niết Bàn: ‘Người đệ tử nào đã diệt trừ được tham ái và dục vọng thì đều dồi dào về minh triết và ngay ở đây trên trần thế này ngài đã giải thoát được sự chết để mãi mãi yên nghỉ trong trạng thái Niết Bàn. Ngài đã thoát khỏi cái vòng luân hồi mù mịt không biết đường nào mà đi, ngài đã đến được bờ bên kia, đã nhập lưu không còn nao núng và nghi ngờ gì nữa, ngài đã giải thoát khỏi trần thế và đạt được Niết Bàn, ta gọi ngài là một người Bà la môn chân chính’. Nếu vị thánh muốn chấm dứt tình trạng này thì ngài có thể làm được ngay, nhưng đa số vẫn kiên trì cho tới khi Thiên nhiên đã đạt được mục đích của mình. Ta có thể nói một vài điều qua miệng của những vị đệ tử xuất sắc của Đức Phật như sau: ‘Tôi không còn mong mỏi sự chết nữa, tôi cũng chẳng còn mong mỏi sự sống nữa, tôi chỉ chờ cho đến khi tận số giống như một người phục vụ chờ được thưởng’.”
Có thêm nữa điều trích dẫn như vậy thì cũng chẳng qua chỉ là lập lại dưới nhiều dạng khác nhau những quan niệm công truyền đến các chư La hán. Cũng giống như mọi sự kiện hoặc tư tưởng trong Phật giáo, vị La hán có hai khía cạnh: khía cạnh mà ngài lộ ra đối với thế giới nói chung, và khía cạnh mà ngài sống, vận động và hiện tồn trong đó. Theo sự đánh giá của giới bình dân thì ngài là một vị thánh đang chờ một phần thưởng tâm linh thuộc loại mà đám thứ dân có thể hiểu được, đó là một người làm ra phép lạ nhờ sự ưu đải của các tác nhân siêu thiên nhiên. Thực ra thì ngài đã được thử thách lâu dài để tỏ ra xứng đáng được gìn giữ cái khoa triết học sâu xa và bí nhiệm nhất của tôn giáo căn bản duy nhất mà Đức Phật đã đổi mới và phục hồi. Ngài là một người nghiên cứu về khoa học thiên nhiên đã đạt tới mức tiền tiêu trong kho tri thức của loài người, chẳng những liên quan tới các bí nhiệm của tinh thần, mà còn liên quan tới cấu tạo vật chất của thế giới nữa.
La hán là một danh xưng của Phật giáo. Ở Ấn Độ thì người ta quen thuộc hơn với danh xưng Chơn sư khi các thuộc tính của quả vị La hán không nhất thiết có liên quan tới việc truyền thừa Phật giáo. Ấn Độ có đầy dẫy những câu chuyện về các Chơn sư. Các Chơn sư thời xưa thường được gọi là các Thánh triết, nhưng những thuật ngữ này có thể thay thế được cho nhau và tôi có nghe người ta áp dụng hồng danh Thánh triết cho những người còn đang sống hiện nay. Trong kho tài liệu của Ấn Độ, người ta cũng mô tả một cách không kém phần kính cẩn mọi thuộc tính của vị La hán được đề cập tới trong các tài liệu của Phật giáo, coi đó là thuộc tính của các Chơn sư; và quyển sách này có thể dễ dàng có được đầy những bản dịch của những quyển sách bằng tiếng bản xứ tường trình về những phép lạ mà các ngài đã thành tựu được còn lưu danh trong lịch sử và truyền thuyết.
Thật ra thì La hán và Chơn sư cũng là cùng một người. Ở mức độ đỉnh cao của tâm linh thì tri thức tối cao về khoa bí truyền đã dung hòa được mọi sự phân biệt có nguồn gốc nơi các giáo phái. Cho dù ta gọi những đấng giác ngộ này là gì đi chăng nữa, thì các ngài cũng là các bậc cao đồ về tri thức huyền bí mà đôi khi hiện giờ ở Ấn Độ người ta gọi là các Huynh trưởng; các ngài nắm giữ khoa học tâm linh đã được các bậc tiền bối truyền thừa cho các ngài.
Tuy nhiên chúng ta có thể hoài công khi tìm kiếm trong kho tài liệu thời xưa cũng như thời nay bất kỳ sự giải thích có hệ thống nào về giáo lý hoặc khoa học của các ngài. Có nhiều điều như thế được trình bày một cách mơ hồ trong các tác phẩm huyền bí. Nhưng có rất ít điều gì có ích lợi cho độc giả tiếp cận với đề tài này mà trước đó không có được tri thức độc lập với sách vở. Chính nhờ được ưu ái nhận lấy giáo huấn ấy từ một trong các vị Chơn sư này cho nên giờ đây tôi mới có thể thử phác họa giáo huấn của Chơn sư cũng giống như tôi đã sưu tầm những điều mà tôi biết được liên quan tới cái tổ chức mà hầu hết các ngài (trong đó có những đấng cao cả nhất) hiện nay thuộc về tổ chức đó.
Trên khắp thế giới có những huyền bí gia ở đủ cấp bậc lỗi lạc và ngay cả có những hội đoàn huynh đệ huyền bí có nhiều điều chung với hội đoàn huynh đệ ưu tú giờ đây đã được lập nên ở Tây Tạng. Nhưng việc nghiên cứu về đề tài này đã khiến cho tôi tin chắc rằng hội đoàn Huynh đệ ở Tây Tạng là vô song và cao hơn hết trong những hội đoàn đó, mọi hội đoàn khác đều coi hội đoàn Tây Tạng là như vậy. Các hội đoàn này xứng đáng tự xưng là những người “đã giác ngộ” theo ý nghĩa thực sự huyền linh của thuật ngữ này. Quả thật là ở Ấn Độ có rải rác những nhà thần bí học biệt lập vốn hoàn toàn tự học và không liên quan tới những hội đoàn huyền bí. Nhiều nhà thần bí học này sẽ giải thích rằng bản thân họ đạt tới đỉnh cao giác ngộ tâm linh còn hơn cả các Huynh trưởng ở Tây Tạng hoặc bất kỳ người nào khác nữa trên trần thế. Nhưng trong mọi trường hợp mà tôi đã gặp thì tôi nghĩ rằng chỉ nội việc khảo sát những điều rêu rao nêu trên cũng khiến cho bất kỳ người ngoài cuộc vô tư nào (cho dù bản thân y không có bao nhiêu tư cách do phát triển cá nhân mà thẩm định được sự giác ngộ về huyền bí học) đi đến kết luận rằng những lời rêu rao này là hoàn toàn vô căn cứ. Chẳng hạn như tôi có biết một người bản xứ Ấn Độ, được giáo dục theo kiểu Âu Tây giữ một chức vụ cao trong Chính quyền, có địa vị cao quí trong xã hội, có tính tình cao thượng nhất và được những người Âu Tây kính trọng một cách khác thường trong sinh hoạt chính thức; người này chỉ dành cho các bậc Huynh trưởng ở Tây Tạng một địa vị hạng hai trong thế giới giác ngộ tâm linh. Địa vị hạng nhất y coi như là do một người duy nhất nắm giữ; người này hiện nay không còn ở trên trần thế nữa và là vị thầy huyền bí của riêng ông trong đời sống; ông ta quả quyết dứt khoát rằng người này là một hóa thân của Đấng Tối Cao. Vị sư phụ này đã làm linh hoạt những giác quan nội giới của người bạn tôi đến nỗi mà những linh ảnh trong trạng thái xuất thần của người này (ông ta có thể tùy ý đạt được trạng thái xuất thần) đối với ông là vùng tâm linh duy nhất mà ông cảm thấy thích thú. Vì tin chắc rằng Đấng Tối Cao đã dạy dỗ cho cá nhân mình ngay từ đầu và vẫn còn tiếp tục như thế trong trạng thái ở nội giới, cho nên dĩ nhiên là ông ta không thể chấp nhận được lời gợi ý theo đó những ấn tượng của ông có thể bị xuyên tạc vì chính ông đã phát triển tâm lý không đúng hướng. Lại nữa, những người sùng tín có trình độ văn hóa cao mà đôi khi ta gặp ở Ấn Độ (họ xây dựng một quan niệm về Thiên nhiên, Vũ trụ và Thượng Đế hoàn toàn dựa vào một cơ sở siêu hình học và họ đã đào luyện ra hệ thống của mình chỉ bằng lực suy tư siêu việt) sẽ coi một hệ thống triết học đã được xác lập nào đó dựa trên căn bản của nó và mở rộng điều này ra cho tới một mức độ mà chỉ một nhà siêu hình học Đông phương mới có thể mường tượng được. Họ thu nhận đệ tử vốn mặc nhiên tin vào họ rồi lập nên những trường phái nhỏ thịnh hành được một thời gian trong vòng giới hạn; nhưng cái loại triết lý suy đoán như thế đúng hơn chỉ để cho cái trí tiêu khiển chứ không phải là tri thức. Khi so sánh với các bậc cao đồ có tổ chức của hội đoàn huynh đệ cao siêu nhất, thì những vị “Sư phụ” như vậy cũng giống như những chiếc thuyền có mái chèo so với những tàu thủy chạy trên đại dương – đó là những phương tiện chuyên chở hữu ích trên sông hồ thuộc bản xứ, nhưng không phải là một guồng máy mà bạn có thể tin rằng nó bảo vệ được mình trong một chuyến thám hiểm toàn cầu băng qua biển cả.
Khi còn xuống thấp hơn nữa trên bậc thang này, ta thấy ở Ấn Độ đều rải rác khắp nơi có những đạo sĩ yoga và fakir thuộc đủ mọi trình độ phát triển, từ những người dã man dơ dáy không cao cả hơn bao nhiêu so với những thầy bói lang thang trong một cuộc thi đua theo kiểu nước Anh cho tới những người ẩn dật đến mức mà người lạ rất khó lòng thâm nhập vào được; những người này có cái năng khiếu và quyền năng dị thường mà chỉ cần thấy hoặc trải qua thì ngay cả một đại diện tự mãn nhất của chủ nghĩa đa nghi hiện đại Tây phương cũng không thể không tin được. Những người nghiên cứu một cách hời hợt rất thường lẫn lộn những người đó với các bậc cao đồ mà họ chỉ mơ hồ nghe nói đến.
Trong khi đó liên quan tới các vị Chơn sư đích thực, hiện nay tôi không dám tường thuật gì về tổ chức Tây Tạng này sẽ ra sao khi xét tới những đấng có thẩm quyền cao nhất. Bản thân các Chơn sư (một số những quan niệm ít nhiều thỏa đáng có lẽ đã được độc giả của tôi nhận thức được vì họ đã kiên nhẫn theo dõi tôi cho đến cùng) cũng còn dưới nhiều cấp so với đấng lãnh đạo tất cả. Vậy thì chúng ta tốt hơn là nên bàn tới tình trạng sơ khai của việc rèn luyện huyền bí học mà điều này có thể dễ hiểu hơn nhiều.
Cái mức độ cao siêu khiến cho một người trở thành điều mà thế giới bên ngoài gọi là một Chơn sư hoặc một vị “Huynh trưởng”, chỉ được đạt tới sau khi người ta đã trải qua giai đoạn dự bị kéo dài và mệt mỏi, với những thử thách băn khoăn thực sự là nghiêm trọng và khủng khiếp. Ta có thể thấy những người đã trải qua 20 hoặc 30 năm hoặc nhiều hơn nữa tận tụy một cách không thể chê trách được và miệt mài với nhiệm vụ trong cuộc sống mà họ đã nhập vào, thế nhưng họ vẫn còn ở giai đoạn đầu tiên khi làm đệ tử và vẫn còn ngước lên trên quả vị Chơn sư cao tột trên đầu họ. Cho dù một đứa trẻ hoặc một con người đã tận hiến cuộc đời mình cho sinh hoạt huyền bí học vào bất kỳ tuổi nào thì nên nhớ rằng y phải tận hiến mà không được dè dặt trong suốt cả đời. Nhiệm vụ mà y đảm đương chính là việc phát triển nơi bản thân rất nhiều năng khiếu và thuộc tính vốn hoàn toàn yên ngủ nơi người thường đến nỗi mà chẳng ai ngờ được rằng chúng có tồn tại và người ta bèn chối bỏ luôn khả năng phát triển được chúng. Bản thân người đệ tử phải phát triển những năng khiếu và thuộc tính này với rất ít (nếu có) sự trợ giúp của sư phụ ngoại trừ việc được ngài chỉ bảo và hướng dẫn. Có một câu cách ngôn huyền bí học nói rằng: “Bậc cao đồ được trở thành chứ ngài không được tạo nên.” Người ta có thể minh họa điều này bằng cách đề cập tới việc tập thể dục rất thông thường. Mọi người còn sống nếu bình thường biết sử dụng tay chân của mình đều có thể bơi được. Nhưng theo cách nói thông thường thì nếu ta đặt một người không biết bơi nhúng chìm vào sâu trong nước thì họ sẽ quẩy lộn và bị chết đuối. Chỉ nội cái cách vận động tay chân đâu có gì là huyền bí, nhưng nếu kẻ bơi lội trong khi vận động tay chân mà không hoàn toàn tin tưởng rằng sự vận động như thế sẽ tạo ra kết quả như mong muốn thì kết quả mong muốn ấy sẽ không xảy ra. Trong trường hợp này, chúng ta chỉ bàn tới những lực cơ giới, nhưng cũng nguyên tắc đó ta sẽ gặp phải khi bàn tới những lực tinh vi hơn. Chỉ nội “sự tin tưởng” không thôi cũng đủ đưa kẻ sơ cơ về huyền bí học đi xa hơn rất nhiều so với mức mà người ta thường tưởng tượng ra được. Có biết bao nhiêu độc giả Âu Tây (họ vốn hoàn toàn không tin tưởng nếu nghe nói về một số kết quả mà các đệ tử huyền bí học trong giai đoạn huấn luyện ban sơ nhất phải thành tựu được chỉ nhờ vào sức mạnh của niềm tin thôi) thường xuyên nghe trong nhà thờ nói tới những lời đoan chắc quen thuộc trong thánh kinh về quyền năng vốn ngự nơi đức tin, thế nhưng họ cứ để cho những lời lẽ đó lướt qua như gió thoảng mây bay không để lại ấn tượng nào hết.
Mục tiêu và mục đích lớn lao của quả vị Chơn sư là thành tựu được sự phát triển tâm linh mà bản chất của nó chỉ được che giấu và ngụy trang bởi những câu nói thông thường trong ngôn ngữ công truyền. Việc bậc cao đồ phải tìm cách hiệp nhất linh hồn của mình với Thượng Đế để cho ngài có thể nhập Niết Bàn là một phát biểu không đem lại một ý nghĩa xác định cho độc giả thông thường; y càng khảo sát nó bằng những sách vở và phương pháp bình thường, thì y càng ít có khả năng nhận ra được bản chất cái tiến trình mà mình mong muốn. Trước hết y cần phải bàn tới quan niệm bí truyền về Thiên nhiên, nguồn gốc và số phận của Con Người (những điều này khác hẳn với quan niệm của thần học) thì nhiên hậu y mới giải thích được cho người ta hiểu được mục đích mà bậc Chơn sư đang theo đuổi. Tuy nhiên trong khi đó ngay từ đầu, ta nên làm cho độc giả tỉnh ngộ đối với quan niệm sai lầm về mục đích của quả vị Chơn sư mà y rất có thể quan niệm ra.
Sự phát triển những năng khiếu tâm linh (việc trau dồi những năng khiếu này có liên quan tới những mục đích cao siêu nhất của sinh hoạt huyền bí học) khi tiến triển sẽ làm nảy sinh ra rất nhiều tri thức phụ trợ liên quan tới những luật vật lý của Thiên nhiên mà người ta thường chưa hiểu được. Tri thức này sẽ mang lại việc vận dụng thực tế một vài lực còn bí ẩn của Thiên nhiên; nó trang bị cho bậc cao đồ và ngay cả cho các đệ tử của vị cao đồ vào những giai đoạn tương đối sớm trong quá trình huấn luyện của mình những quyền năng phi thường mà việc áp dụng chúng vào những vấn đề trong đời sống hằng ngày đôi khi sẽ tạo ra những kết quả dường như là hoàn toàn mầu nhiệm. Theo quan điểm thông thường, việc đạt được những quyền năng xét theo biểu kiến là mầu nhiệm này quả thật là một thành tựu phi thường đến nỗi người ta đôi khi ưa tưởng tượng rằng mục tiêu của bậc cao đồ trong khi mưu tìm cái tri thức mà ngài đạt được chính là việc trang bị cho bản thân những quyền năng mà nhiều người khao khát. Điều này nghe cũng hợp lý như việc bảo rằng bất kỳ một nhà ái quốc nào trong lịch sử chiến tranh đều đặt ra mục tiêu của mình khi trở thành một người chiến sĩ là được mang một bộ đồng phục sặc sỡ để làm dáng với những cô điều dưỡng.
Phương pháp của Đông phương nhằm trau dồi tri thức bao giờ cũng khác hẳn với phương pháp mà Tây phương theo đuổi trong quá trình phát triển khoa học hiện đại. Trong khi Âu Tây khảo cứu Thiên nhiên một cách công khai hết mức, mọi bước tiến đều được thảo luận một cách cực kỳ tự do, mọi sự kiện mới thu lượm đều được lưu truyền ngay tức khắc vì lợi ích của mọi người, thì khoa học tại Á đông đã được nghiên cứu một cách bí mật và những thành tựu của nó đã được bo bo giữ chặt. Cho đến nay tôi không cần phải thử ra sức hoặc là chỉ trích hoặc là bênh vực phương pháp của nó. Nhưng dù sao đi nữa trong trường hợp của cá nhân tôi, những phương pháp này đã được nới lỏng đến một mức nào đó và như tôi đã nêu rõ được sự chấp thuận hoàn toàn của các vị đạo sư, giờ đây tôi sẽ đi theo cái khuynh hướng Âu Tây của chính mình để truyền thụ những gì mà tôi học được cho tất cả những người nào sẵn lòng tiếp nhận nó. Sau này người ta sẽ thấy việc đi lệch khỏi những qui tắc thông thường trong việc nghiên cứu huyền bí học (thể hiện qua những sự nhượng bộ hiện nay) dĩ nhiên là sẽ có được địa vị của nó trong toàn bộ cái kế hoạch của triết lý huyền bí học. Theo một nghĩa nào đó việc tiếp cận với triết lý này luôn luôn được mở rộng cho mọi người. Trên thế giới có nhiều phương tiện đã mơ hồ phổ biến cái ý niệm cho rằng một số phương thức nghiên cứu mà con người ở đâu đó thực sự noi theo có thể đưa tới việc thu lượm được một loại tri thức cao siêu hơn so với loại được dạy dỗ cho loài người nói chung trong sách vở hoặc là thông qua những nhà thuyết giảng tôn giáo công truyền. Như ta đã nêu rõ, Đông phương luôn luôn mơ hồ nhớ mãi và tin tưởng vào điều này, nhưng ngay cả ở Tây phương toàn khối kho tài liệu biểu tượng liên quan tới Chiêm tinh học, Thuật luyện kim đan và thần bí học nói chung cũng làm cho xã hội Âu Tây trở nên sôi nổi, khiến cho một vài những tâm trí có đủ tư cách và có những năng khiếu tiếp thu đặc thù tin chắc rằng có tồn tại những chân lý cao cả ẩn tàng đằng sau mọi điều vớ vẩn vô nghĩa xét theo bề ngoài này. Đối với những người như thế, việc nghiên cứu những điều kỳ khôi đôi khi lại tiết lộ những đoạn ẩn tàng dẫn tới những địa hạt giác ngộ cao cả nhất mà người ta có thể tưởng tượng được. Nhưng cho tới nay, trong mọi trường hợp như thế theo luật lệ của trường phái này, kẻ sơ cơ vừa mới xâm nhập vào địa hạt bí nhiệm thì đã bị ràng bụôc vào sự bảo mật không thể vi phạm đối với mọi điều liên quan tới việc y nhập môn và tiến bộ thêm nữa. Ở Á đông cũng giống như vậy, “người đệ tử” hoặc học viên về huyền bí học vừa mới trở thành đệ tử thì không còn là một nhân chứng để lớn tiếng bênh vực cho thực tại của tri thức huyền bí. Từ khi bản thân tôi có dính dáng tới vấn đề này thì tôi đã ngạc nhiên xiết bao khi thấy có rất nhiều đệ tử như vậy. Nhưng không thể tưởng tượng ra được con người có một hành vi ít có khả năng xảy ra hơn là việc bất kỳ một người đệ tử nào không được phép mà dám tiết lộ cho những người thuộc thế giới bên ngoài biết rằng mình là một đệ tử, và như vậy trường phái triết học bí truyền vĩ đại đã bảo vệ thành công được sự ẩn dật của mình.
Trong một quyển sách trước kia, quyển Thế giới Huyền bí, tôi đã tường thuật một cách trọn vẹn và thẳng thắn hoàn cảnh nào khiến cho tôi tiếp xúc được với các bậc bác học có năng khiếu nghiên cứu sâu sắc mà nhờ các ngài từ đó tôi mới thu lượm được giáo huấn chứa đựng trong quyển sách này. Tôi không cần lập lại câu chuyện đó nữa. Bây giờ tôi xin tiếp tục tiến lên chuẩn bị bàn tới đề tài này theo một cách mới mẻ. Người ta có thể xác lập sự tồn tại của các bậc cao đồ huyền bí học cùng với tầm quan trọng của các thành tựu của các ngài theo hai đường lối lập luận khác nhau: một là dựa vào bằng chứng bên ngoài, sự chứng nhận của các nhân chứng có đầy đủ tư cách việc những người có liên quan tới các vị cao đồ này biểu lộ những năng khiếu phi thường khiến cho người ta đạt đến mức hơn cả chuyện suy đoán rằng các ngài có được tri thức mở rộng một cách phi thường; hai là bằng cách trình bày một phần đáng kể tri thức này để đem lại những sự đoan chắc cố hữu về giá trị của chính nó. Quyển sách đầu tiên của tôi đã được triển khai theo phương pháp thứ nhất; bây giờ tôi tiếp cận với một nhiệm vụ ghê gớm hơn là triển khai theo phương pháp thứ hai.
CHÚ GIẢI
Chúng ta càng tiến bộ khi nghiên cứu về huyền bí học thì quan niệm chúng ta về các Chơn sư lại tỏ ra cao siêu hơn về nhiều phương diện. Chỉ nội việc nỗ lực trí thức không thôi không giúp cho người ta hiểu biết được các đấng này khác với người thường nói chung ở chỗ nào. Có những khía cạnh trong bản chất của Chơn sư vốn có liên quan tới sự phát triển phi thường các nguyên khí cao nơi con người mà ta không thể thực hiện được bằng việc ứng dụng các nguyên khí thấp. Nhưng trong khi những quan niệm thô thiển vào lúc đầu không đạt tới mức độ thực sự của các sự kiện, thì lại có một sự phức tạp kỳ lạ khác về vấn đề này nảy sinh theo đường lối đó. Ý niệm đầu tiên của chúng ta rằng Chơn sư đã đạt được quyền năng thâm nhập vào những bí nhiệm phi thường của bản chất tâm linh, vốn dựa trên mô hình là quan niệm của chúng ta về một nhà khoa học rất có năng khiếu trong cõi của chính chúng ta. Chúng ta thường hay nghĩ một Chơn sư bao giờ cũng là một Chơn sư, nghĩa là một người rất cao cả tất nhiên phải vận dụng trong mọi mối quan hệ sinh hoạt của ngài những thuộc tính thường được gán cho một Chơn sư. Về vấn đề này như trên đã nêu rõ, trong khi chúng ta chắc chắn là thất bại khi chúng ta gán cho ngài những thuộc tính của Chơn sư theo suy nghĩ của mình, thì chúng ta lại rất dễ dàng đi sang một thái cực khác khi suy nghĩ về ngài với khía cạnh của một người phàm và như vậy là tự chúng ta đã sa vào nhiều nỗi băn khoăn khi chúng ta mới phần nào làm quen được với những đặc trưng của thế giới huyền bí. Chính vì những thuộc tính cao siêu nhất của quả vị Chơn sư có liên quan tới những nguyên khí nơi bản chất con người vốn hoàn toàn siêu việt những giới hạn của sự sống trên cõi trần, cho nên Chơn sư chỉ có thể là Chơn sư theo cái nghĩa cao siêu nhất của từ này khi (tạm gọi là) ngài “ở ngoài thể xác” hoặc dù sao đi nữa thì ngài cũng phải có những nỗ lực đặc biệt của ý chí để nhập vào một trạng thái phi thường. Khi ngài không vận dụng tới những nỗ lực như thế hoặc không hoàn toàn vượt ra khỏi những giới hạn của cái ngục tù xác thịt, thì ngài giống nhiều hơn một người thường so với cái mức mà các đệ tử thường tin tưởng qua kinh nghiệm với ngài về một số phương diện.
Một sự đánh giá đúng đắn tình trạng sự vịêc này ắt giải thích được sự mâu thuẫn biểu kiến liên quan tới lập trường người đệ tử huyền bí đối với sư phụ của mình khi đem lập trường này so sánh với một số lời tuyên bố mà chính vị sư phụ thường đưa ra. Chẳng hạn như các Chơn sư cứ khăng khăng quả quyết rằng các ngài chẳng phải là không thể sai lầm, các ngài cũng là những con người giống như chúng ta có lẽ với một mức độ hiểu biết về thiên nhiên hơi mở rộng hơn so với nhân loại nói chung; nhưng các ngài vẫn có thể bị sai lầm cả theo hướng việc kinh doanh thực tế mà các ngài có thể dính dáng tới, lẫn theo hướng ước lượng được tính tình của những người khác, hoặc năng lực của những ứng viên muốn phát triển về huyền bí học. Nhưng làm sao chúng ta dung hòa được những phát biểu thuộc loại này với nguyên tắc căn bản vốn là nền tảng của mọi sự khảo cứu huyền bí, nguyên tắc này ra lệnh cho kẻ sơ cơ phải không dè dặt mà đặt trọn niềm tin vào giáo huấn và sự dẫn dắt của sư phụ. Giải pháp cho khó khăn này vốn ở nơi tình trạng sự việc nêu trên. Trong khi Chơn sư có thể gây ngạc nhiên khi là một người đôi khi hoàn toàn bị sai lầm trong việc điều khiển chuyện kinh doanh trên trần thế, chẳng khác nào chính chúng ta cũng có một số vĩ nhân thiên tài có thể phạm sai lầm trong đời sống hằng ngày mà những người thực tế chẳng bao giờ phạm phải. Mặt khác, khi Chơn sư trực tiếp bàn đến những bí nhiệm cao siêu của khoa học tâm linh, thì ngài làm như vậy bằng cách vận dụng những thuộc tính Chơn sư của mình, cho nên khi bàn về những vấn đề đó, thì ngài hầu như không thể phạm phải sai lầm mà ta có thể nhận ra được.
Nhận xét này khiến cho chúng ta cảm thấy đáng tin cậy vào giáo huấn rút ra từ một nguồn giống như cội nguồn đã gợi cảm hứng cho quyển sách này. Nó hoàn toàn vượt khỏi tầm mức của những sự việc nho nhỏ mà trong khi kinh nghiệm của ta tiến triển thì dường như nó có thể đòi hỏi phải xét lại cái lòng tin nhiệt thành vào sự minh triết tối cao của các Chơn sư mà khi lần đầu tiên bước vào nghiên cứu huyền bí học thì người ta thường cảm thấy như vậy.
Khi người đệ tử huyền bí học có được sự hiểu biết mở rộng về thế giới mà mình đang nhập vào, thì lòng nhiệt thành và lòng kính trọng như thế thực ra không hề bị giảm sút. Cái người mà xét về một phương diện vốn là một Chơn sư thì đúng ra có thể lọt vào trong vòng giới hạn yêu thương của con người nhiều hơn mức không có quyền được kính trọng, xét vì trong đời sống hằng ngày, ngài không hoàn toàn vượt lên trên được cái nấc thang bình thường của xúc cảm con người giống như một số kinh nghiệm Niết Bàn của ngài có thể khiến ta phải tin rằng ngài ắt như vậy.
Nếu chúng ta luôn luôn nhớ kỹ rằng một Chơn sư chỉ đúng là một Chơn sư khi đang vận dụng những chức năng Chơn sư của mình, nhưng khi vận dụng những chức năng này, ngài có thể vươn lên tới mối quan hệ tâm linh với điều mà khi xét tới những giới hạn trong thái dương hệ của chúng ta thì chúng ta thực tế có ý muốn nói tới đó là sự toàn tri; lúc bấy giờ chúng ta sẽ thoát khỏi nhiều nhầm lẫn mà đề tài này có thể làm cho ta bối rối.
Ở đây ta có thể lưu ý tới những điều phức tạp liên quan đến bản chất của Chơn sư, điều này khó mà hoàn toàn hiểu được nếu không tham chiếu một số chương sau trong quyển sách này, nhưng nó có tầm quan trọng đối với mọi toan tính muốn hiểu quả vị Chơn sư thực sự là gì cho nên ta có thể tiện hơn là bàn tới nó ngay ở đây. Bản chất lưỡng tính của Chơn sư vốn hoàn toàn đến nỗi mà một số ảnh hưởng hoặc minh triết của ngài trên các cõi cao trong thiên nhiên thực sự có thể bị rút tỉa bởi những người có quan hệ tâm linh đặc biệt với ngài mà Chơn sư vào lúc đó thậm chí không biết được có người đã kêu cầu tới ngài. Như vậy thì điều này mở ra cho chúng ta suy đoán việc có thể là mối quan hệ giữa Chơn sư tâm linh và Chơn sư con người đôi khi khá giống như điều mà người ta thỉnh thoảng nói tới trong các tác phẩm bí truyền: đó là một sự phù hộ hơn là một sự nhập thể theo đúng nghĩa của từ này.
Hơn nữa có một sự phức tạp độc lập khác về vấn đề này khi ta nhận ra sự thật rằng mỗi Chơn sư không chỉ là một chơn ngã con người ở một trạng thái rất cao siêu mà có thể nói là còn thuộc về một bộ môn chuyên biệt nào đó trong cơ cấu tổ chức lớn lao của thiên nhiên. Mọi Chơn sư đều phải thuộc về một trong bảy loại hình lớn ở quả vị Chơn sư, nhưng mặc dù chúng ta hầu như chắc chắn có thể suy diễn rằng giữa các loại hình khác nhau này ắt có sự tương xứng với bảy nguyên khí nơi con người, thì tôi cũng không dám thử toan tính minh giải trọn vẹn được giả thuyết này. Chỉ cần áp dụng ý niệm này vào điều mà chúng ta chỉ biết một cách mơ hồ về tổ chức huyền bí học ở các cõi cao. Và một lúc nào đó trong quá khứ, các tác phẩm bí truyền có khẳng định rằng có năm vị Đại Đế tức các Chơn sư cao cấp chủ trì toàn bộ đại đoàn các Chơn sư. Khi viết xong chương vừa qua của quyển sách này thì tôi lại có cảm tưởng rằng có một vị thủ lãnh tối cao ở một cõi khác có uy quyền đối với năm vị Đại Đế này, nhưng bây giờ tôi thấy hình như nhân vật này đúng ra phải được coi là một vị Đại Đế thứ sáu, chính ngài lãnh đạo loại hình thứ sáu các Chơn sư. Và sự phỏng đoán này khiến cho người ta phải suy diễn thêm nữa ngay lập tức rằng ắt phải có một vị Đại Đế thứ bảy để bổ sung cho những sự tương ứng mà chúng ta vừa mới phân biệt như nêu trên. Nhưng cũng giống như nguyên khí thứ bảy trong Thiên nhiên hoặc trong con người là một khái niệm tinh vi nhất thoát khỏi tầm nghĩ bàn của bất kỳ sự suy tư theo trí năng nào và chỉ có thể mô tả được bằng những câu mơ hồ vô nghĩa về mặt siêu hình học; cũng vậy chúng ta có thể hoàn toàn tin chắc rằng vị Đại Đế thứ bảy không thể tiếp cận được qua óc tưởng tượng của kẻ chưa lão luyện. Nhưng chắc chắn là ngay cả ngài cũng đóng một vai trò trong cái gọi là cơ cấu tổ chức cao siêu có bản chất tâm linh và có một nhân vật như thế đôi khi hiện ra với một số các Chơn sư khác mà tôi có kể đến. Nhưng việc suy đoán về ngài chỉ có giá trị chủ yếu là giúp cho ta thấy được tính cách trước sau như một của ý tưởng nêu trên, theo đó ta có thể hiểu được thực chất của các Chơn sư là những hiện tượng cần thiết trong thiên nhiên; nếu không có các ngài, thì ta khó lòng mà tưởng tượng được nhân loại sẽ tiến hóa như thế nào và chỉ có một số những người ngoại lệ mới đạt được những đỉnh cao vĩ đại về tâm linh.