Khi bắt đầu với hai điều bối rối lớn lao của triết học thông thường tức là sự xung đột giữa tự do ý chí và sự tiền định cũng như nguồn gốc của điều ác thì chắc chắn là ta nhận thấy được rằng hệ thống Thiên nhiên mà giờ đây đã được giải thích giúp cho chúng ta có thể bàn đến những vấn đề này một cách bạo dạng hơn so với mức mà ta đã làm được từ trước đến nay. Cho tới nay, những người tư tưởng thận trọng nhất ít dám tuyên bố rằng nhờ vào khoa siêu hình học hoặc tôn giáo mà mình có thể giải quyết được vấn đề gút mắt về sự tự do ý chí và sự tiền định. Khuynh hướng tư tưởng là giao phó trọn vẹn câu đố này cho địa hạt điều bất khả tri. Và kỳ lạ thay những người nào bằng lòng làm như thế tuy nhiên lại cũng bằng lòng chấp nhận những giáo lý của tôn giáo coi đó chỉ là một giả thuyết tạm bợ, do đó không thể dung hòa được với một số kết luận rành rành nhất của chính mình. Sự toàn tri của một đấng Tạo hóa hữu ngã quán xuyến cả tương lai lẫn quá khứ, không còn dành một chỗ nào cho người ta có thể vận dụng được thẩm quyền độc lập của mình đối với số phận của chính mình, tuy nhiên y rất cần được phép vận dụng thẩm quyền đó để cho cái chính sách thưởng phạt y về những hành vi trong buổi sinh thời có thể được công nhận là một điều gì đó chẳng đến nỗi là bất công một cách hết sức lố bịch. Một triết gia vĩ đại người Anh khi giáp mặt với sự băn khoăn này đã thẳng thắn tuyên bố trong một bài tiểu luận nổi tiếng được xuất bản sau khi ông qua đời; theo đó, do những cân nhắc nêu trên Thượng Đế không thể toàn thiện và toàn năng. Người ta có toàn quyền gán cho ngài một cách hợp lý một trong hai thuộc tính này, nhưng không thể cả hai cùng một lúc. Lập luận này được trân trọng vì tiếng tăm lừng lẫy của tác giả nêu trên, nhưng nó lại ý tứ dẹp sang một bên vì muốn tôn trọng những giáo điều chính thống.
Nhưng giáo lý bí truyền đã đến cứu được chúng ta thoát khỏi tình trạng khẩn cấp này. Trước hết, nó thẳng thắn nhìn nhận kích thước vô cùng bé của thế giới của ta so với vũ trụ. Đây là một sự kiện trong Thiên nhiên mà Giáo hội Ki Tô thời sơ khai e ngại theo một bản năng rất đúng sự thực, và giáo hội đã độc ác khủng bố, chiến đấu chống lại sự kiện đó. Người ta đã chối bỏ sự thật và những người đưa ra sự kiện đó đã bị hành hạ trong nhiều thế kỷ. Cuối cùng sau khi đã được xác lập vượt quá khỏi thẩm quyền phủ định của Đức Gíao hoàng, thì Giáo hội phải cầu cứu tới cả cái “phương tiện đầy tuyệt vọng” (trích dẫn câu nói của ông Rhys Davids) để giả định rằng điều này chẳng có chi là quan trọng.
Mãi cho tới nay, sự giả vờ này đã thành công hơn mức mà các tác giả của nó có thể trông mong được. Khi họ e sợ sự phát triển của thiên văn học, thì họ đã cung cấp cho thế giới nói chung cái khoa lý luận tàn nhẫn so với mức thế giới rốt cuộc tỏ ra có khuynh hướng vận dụng được. Như thông lệ, thiên hạ tỏ ra sẵn lòng làm điều mà tôi đã mô tả trong Phật giáo bí truyền là không yêu cầu chúng ta phải làm như vậy, nghĩa là giữ cho khoa học và tôn giáo ở trong những ngăn riêng biệt bưng bít. Nguyên tắc này đã hoạt động lâu dài và hoàn chỉnh đến nỗi mà cuối cùng nó không còn là một sự phản bác chống lại tính cả tin đối với một tín điều tôn giáo khi vạch ra không thể có được tín điều này. Nhưng khi chúng ta xác lập một mối liên hệ giữa những cái kho chứa từ trước đến nay vẫn bị phân ly đó và yêu cầu chúng phải được ngang bằng với nhau, thì chúng ta không khỏi thấy được cái độ lớn của trái đất đã bị rút nhỏ đi biết bao nhiêu theo một tỉ lệ tương ứng với tính chất có thể đúng của các thuyết vốn đòi hỏi chúng ta phải coi những chi tiết trong cuộc đời của chính mình là một phần kho chứa chung thuộc sự toàn tri của một Đấng Sáng Tạo ra vũ trụ. Ngược lại, thật là phi lý khi giả sử rằng các tạo vật ở trên một hành tinh nhỏ thuộc một trong những mặt trời nhỏ nơi đại dương vũ trụ (trong đó mặt trời chỉ là những giọt nước so với biển cả) về một phương diện nào đó lại được miễn trừ cái nguyên tắc tổng quát do định luật chi phối. Nhưng cái nguyên tắc đó không thể cùng tồn tại song song với sự quản trị theo ngẫu hứng, đây là tình trạng cốt lõi về sự tiền định mà những sự thảo luận theo qui ước về vấn đề này trước khi có chúng tôi đều làm liên tưởng tới việc phải dùng thuật ngữ ấy. Đó là vì nếu ta nhận xét rằng sự tiền định vốn mâu thuẫn với tự do ý chí thì không phải là sự tiền định của các giống dân mà chỉ là sự tiền định của cá thể, vốn làm ta liên tưởng tới ý niệm về ân huệ thiêng liêng hoặc cơn thịnh nộ của đấng thiêng liêng. Theo những qui luật tương tự với những qui luật chi phối khuynh hướng của bất kỳ đa số cơ hội độc lập nào, thì sự tiền định của các giống dân hoàn toàn tương thích với sự tự do ý chí của cá thể, và như vậy chính giáo lý bí truyền đã dung hòa được những mâu thuẫn của Thiên nhiên dằng dai từ trước đến nay. Con người kiểm soát được số phận của chính mình trong giới hạn cấu tạo của mình (tạm gọi như vậy); y hoàn toàn có quyền tha hồ vận dụng những khả năng của mình đến mức tối đa và xét về đơn vị cá thể của y thì những quyền năng này thực tế là vô hạn. Nhưng trong một hoàn cảnh cho sẵn, khi xét tới đại đa số các đơn vị cá thể, thì hành động của một phàm phu cũng là tiêu biểu cho sự tiến hóa tất định của những chu kỳ tạo nên số phận tập thể của những phàm phu đó.
Ta có thể khẳng định rằng sự tiền định của cá thể không hề liên quan tới ân huệ thiêng liêng hoặc cơn thịnh nộ của đấng thiêng liêng theo như giáo điều của tôn giáo nói; song le sự tiền định này vốn dựa vào những cơ sở thuần túy siêu hình điều này có nghĩa là ta có thể lập luận rằng mỗi tạo vật con người trong buổi ấu trĩ đều cơ bản là phải chịu cùng một ảnh hưởng trong những hoàn cảnh giống nhau, còn khi đã trở nên trưởng thành, thì nó chỉ là sản phẩm hoặc ấn tượng của mọi hoàn cảnh vốn tác dụng lên cuộc sống đó ngay từ đầu sao cho nếu ta đã biết rõ những hoàn cảnh này, thì ta ắt biết được kết quả về mặt đạo đức và trí tuệ. Cứ theo cái chuỗi lý luận như thế, ta có thể chứng minh được rằng xét về mặt lý thuyết ta có thể biết được những hoàn cảnh sinh hoạt của mỗi người bằng một trí thông minh điều tra đúng mức. Chẳng hạn như các khuynh hướng di truyền chẳng qua chỉ là sản phẩm của những hoàn cảnh trước kia được ghép thêm vào bất kỳ phép tính cho sẵn nào đó dưới dạng một sự nhiễu loạn, nhưng chẳng phải vì thế mà ta không tính toán được. Tuy nhiên, lập luận này không ít mâu thuẫn trực tiếp với ý thức của nhân loại giống như giáo điều của tôn giáo khi nói về sự tiền định của cá thể. Ý thức về tự do ý chí là một yếu tố trong quá trình này mà ta cảm nhận được như thế đâu phải chỉ là một xung thần kinh tự động giống như sự co giật cái chân của một con ếch đã chết rồi. Cả giáo điều tôn giáo thông thường lẫn lập luận của siêu hình học thông thường đều buộc chúng ta phải xem xét vấn đề này từ góc độ đó; nhưng giáo lý bí truyền đã phục hồi được phẩm giá chân chính lại cho nó và chứng tỏ cho chúng ta thấy phạm vi hoạt động của nó cũng như giới hạn ứng dụng của nó. Nó có tác dụng trong đời sinh hoạt của cá thể, nhưng chẳng có tác dụng gì khi xét thêm luật chu kỳ, mà ngay cả một triết gia thực chứng như Draper cũng dò tìm thấy được trong lịch sử loài người, mặc dù ông chỉ có thể quan sát được một thời kỳ ngắn ngủi. Tuy nhiên cái vũng lầy tư tưởng phụ trợ đó mà J. S. Mill nhận ra được song hành với những mâu thuẫn có trong thần học – vấn đề lớn lao là liệu sự suy đoán có bắt buộc phải vận dụng cái giả thuyết về toàn thiện và toàn năng hay chăng – đã biểu hiện ra được qua những lời giải thích trong hệ thống mà giờ đây chúng tôi tiết lộ. Các đấng cao cả (tinh hoa toàn bích của nhân loại xưa kia; mặc dù còn lâu mới họp thành một vị Thượng Đế, song các ngài vẫn chủ trì vận mệnh của thế giới một cách thiêng liêng) chẳng những không toàn năng mà cho dù cao cả, các ngài vẫn bị hạn chế khi tác động trong những giới hạn tương đối hẹp. Điều này dường như thể khi sân khấu (tạm gọi như vậy) được chuẩn bị mới để cho một vở tuồng mới trong đời sinh hoạt, thì các ngài có thể đưa vào một số điều cải thiện về mặt tác động được rút ra từ chính kinh nghiệm cá nhân của các ngài trong cái vở tuồng mà các ngài đã từng nhập vai; nhưng xét về cấu trúc chính của vở tuồng đó thì các ngài chỉ có thể lập lại những gì vốn đã được biểu diễn trước kia. Trên một qui mô lớn, các ngài có thể làm được điều mà một người làm vườn làm được so với những đóa hoa thược dược trên một qui mô nhỏ, y có thể mang lại những sự cải tiến đáng kể về hình dáng và màu sắc, nhưng cho dù được chăm sóc kỹ lưỡng đến đâu đi nữa, những đóa hoa cũng chỉ là hoa thược dược mà thôi.
Nhân tiện đây, để hỗ trợ cho việc người ta chấp nhận được giáo lý bí truyền, thiên hạ có thể thắc mắc rằng liệu có bất cứ lúc nào mà một điều tương tự trong thiên nhiên hỗ trợ được cho việc chấp nhận giáo lý bí truyền hay chăng? Các triết gia huyền bí buổi sơ khai có viết rằng “trên sao, dưới vậy”; tiểu vũ trụ là một tấm gương phản chiếu đại vũ trụ. Toàn thể Thiên nhiên trong phạm vi quan sát vật lý của chúng ta đều nghiệm đúng qui tắc này, trong chừng mực mà cái địa hạt hạn chế đó có thể phô trương được bất kỳ nguyên tắc nào. Cấu trúc của loài động vật hạ đẳng được mô phỏng lại có biến thái đôi chút nơi loài động vật thượng đẳng và nơi Loài Người; những sợi gân tinh vi của cái lá cây cũng chia nhánh giống như những cành cây và kính hiển vi theo dõi được những sự chia nhánh như thế lặp đi lặp lại vượt quá tầm nhìn của mắt phàm. Những dòng nước mưa có đầy bụi làm ngưng tụ bên vệ đường “những viên đá trầm tích” trong cái vũng nước mà những viên đá này phát triển nên, cũng giống như những dòng sông mang nước từ hồ và các suối nguồn bao la trên thế giới này tuôn trào xuống đáy biển. Công trình địa chất của một cái ao và công trình địa chất của một đại dương chỉ khác nhau về qui mô; và chỉ xét về qui mô thì giáo lý bí truyền mới cho thấy được các định luật tinh vi nhất của Thiên nhiên khác nhau như thế nào về thẩm quyền đối với con người cũng như thẩm quyền đối với hệ thống hành tinh. Cũng như những đứa con trẻ trong mỗi thế hệ loài người đều được cha mẹ chúng chăm sóc trong buổi ấu thơ và khi đến lượt chúng lớn lên thì chúng lại chăm sóc một thế hệ khác; cũng vậy trong trọn cả loài người thuộc các đại chu kỳ thành trụ, những người thuộc một thế hệ này tiến lên thành các đấng Dhyan Chohan của thế hệ kế tiếp, để rồi cuối cùng khi thời gian trôi qua, các ngài lại nhường ngôi cho đám hậu duệ để chuyển lên những địa vị tự thể cao siêu hơn.
Giáo lý bí truyền bàn về sự tồn tại của điều ác cũng chẳng kém phần dứt khoát khi giải đáp thắc mắc về tự do ý chí. Ta đã bàn tới đề tài này ở đúng chỗ của nó nơi một chương trước kia đề cập tới Sự Tiến bộ của Nhân loại, nhưng ta ắt thấy rằng giáo lý bí truyền đối phó với vấn đề lớn lao này một cách sát sườn hơn so với mức chỉ nêu ra được bằng cách nào mà tự do ý chí của con người (mục đích của Thiên nhiên là bồi dưỡng cho con người trau dồi nó tiến hóa lên quả vị Dhyan Chohan) – theo giả thiết – phải được tha hồ làm điều ác nếu nó muốn. Cái nguyên tắc chung thì đại khái tác động như vậy, nhưng trong giáo lý hiện nay ta có thể truy nguyên được đường lối tác động của nó cũng minh bạch như chính nguyên tắc đó vậy. Nó tác động thông qua Nghiệp trên cõi trần và không thể không tác động như thế, ngoại trừ việc làm treo lơ lửng cái định luật bất di bất dịch theo đó nguyên nhân không khỏi sinh ra hậu quả. Cái con người nơi ngoại giới được sinh ra trên cõi trần thì cũng giống y hệt như cái tạo vật con người mà y làm linh hoạt trong kiếp trước, cũng giống con người nơi nội giới trong khi sống giai đoạn trung gian của kiếp Devachan. Điều ác mà con người gây ra vẫn đeo đuổi theo họ, theo một ý nghĩa thô thiển hơn mức ngay cả Shakespeare có ý định muốn nói tới trong các từ này. Người ta có thể thắc mắc rằng làm thế nào mà tội lỗi đạo đức của một con người trong một kiếp sống lại khiến cho y lúc sinh ra đã bị mù hoặc què quặt vào một thời kỳ khác trong lịch sử thế giới mãi tới nhiều ngàn năm sau này (cha mẹ của y đâu có liên hệ vật thể nào đối với y trong kiếp trước). Nhưng ta giải quyết được khó khăn này bằng cách xét tới những tác động của các ái lực dễ dàng hơn cả mức mà thoạt nhìn ta có thể tưởng tượng được. Xét về cái khuôn vật thể của y thì đứa trẻ bị mù hay què quặt có thể có tiềm năng nhiều hơn mức chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh cục bộ. Nhưng y đâu thể sinh ra đời được nếu không có một chơn thần phát nguyện lâm phàm và mang theo một nguyên khí thứ năm (cố nhiên là trong chừng mực mà nguyên khí thứ năm này còn dằng dai) đã được Nghiệp báo làm cho thích ứng chính xác để chiếm ngự cái cơ thể đầy tiềm năng đó. Nếu cho sẵn những hoàn cảnh như thế thì đứa trẻ có cấu tạo bất toàn sẽ được thụ thai để rồi ra chào đời và trở thành một nguyên nhân gây phiền nhiễu cho chính mình và những người khác – đến lượt hậu quả lại biến thành nguyên nhân – và nó trở thành một câu đố sống động cho những triết gia nào đang nỗ lực giải thích nguồn gốc của điều ác.
Cũng lời giải thích đó phải được áp dụng một cách có thay đổi cho mức độ rộng lớn những trường hợp mà ta có thể trích dẫn để minh họa cho vấn đề điều ác trên thế giới. Nhân tiện xin nói hơn nữa, nó bao gồm vấn đề có liên quan tới sự tác động của luật Nghiệp báo mà ta khó lòng có thể gọi là một điều khó hiểu, vì câu giải đáp ắt có thể được gợi ra qua nhiều phương diện của chính giáo lý, tuy nhiên nó có quyền được lưu ý đến. Việc các vong linh nặng trĩu Nghiệp báo tiếp tục có chọn lọc dòng giống huyết tộc tương ứng với những nhu cầu và công trạng của mình chính là lời giải thích hiển nhiên dung hòa được sự tái sinh với thuyết cách thế di truyền và thuyết di truyền. Đứa trẻ được sinh ra dường như có thể mô phỏng lại những đặc điểm đạo đức và trí tuệ của cha mẹ hoặc tổ tiên và cũng giống như những vị này; sự kiện đó gợi cho ta ý niệm linh hồn của nó cũng là một cái nhánh nhóc của cây gia phả giống như thể xác của nó. Ở đây, ta không cần phải mở rộng bàn về những điều lúng túng xung quanh thuyết này với việc giả định một cách quá lố rằng giống như một tia lửa bắn ra khỏi cái đe mà không để lại một quá khứ tâm linh nào đằng sau mình, linh hồn thoát xác cũng có một tương lai tâm linh trước mắt mình. Linh hồn được quan niệm như thế chỉ là một chức năng của thể xác cho nên chắc chắn nó sẽ bị kết liễu khi cái xác bị tan rã và nó bắt nguồn từ cái xác. Tuy nhiên giáo lý bí truyền liên quan tới những đặc tính được truyền thừa sẽ giải thích trọn vẹn hiện tượng đó cũng như mọi hiện tượng khác liên quan tới đời sống của con người. Đối với chơn thần luân hồi, gia đình mà y sinh ra trong đó cũng chẳng khác gì một hành tinh mới mẻ đối với trọn cả đợt sóng triều nhân loại trong một cuộc tuần hoàn xuyên suốt dãy hành tinh của chu kỳ thành trụ. Nó đã được kiến tạo do một quá trình tiến hóa tác động theo một đường xuyên ngang qua đường lối tiếp cận của loài người; nhưng nó thích hợp để cho nhân loại ở trên đó khi đã đúng lúc. Như vậy chơn thần luân hồi khi dấn bước tiến vào ngoại giới thì những ảnh hưởng giữ nó lại ở trạng thái Devachan đã bị kiệt quệ, và có thể nói là nó đã chạm vào cái lò xo của Thiên nhiên gây ra sự phát triển một đứa trẻ; nếu không có sự phát triển đó thì điều này vẫn chỉ là một tiềm năng chứ chưa trở thành hiện thực. Nhưng khi nó tìm thấy cái dòng giống huyết tộc – dĩ nhiên là một cách vô ý thức do tác động mù quáng của các ái lực – thì đó chính là tình huống đích xác của một cuộc sống đổi mới trở lại mà nó đã chuẩn bị trong kiếp vừa qua. Chắc chắn là ta chẳng bao giờ được phép quên rằng trong những qui tắc chung đó của Thiên nhiên bao giờ cũng có những ngoại lệ. Trong trường hợp mà ta đang xét, đôi khi có thể xảy ra một tai nạn gây ra tổn thương cho đứa trẻ lúc chào đời. Như vậy là một cái xác què quặt đâm ra có thể được cung cấp cho một chơn linh mà Nghiệp báo tuyệt nhiên không hề phải chịu sự trừng phạt đó, và có rất nhiều thứ tai nạn khác xảy ra. Nhưng đối với tất cả những điều này ta cần phải nói rằng Thiên nhiên không hề bối rối đối với những tai nạn đó, nó còn nhiều thời giờ để sửa chữa lại. Sự đau khổ không đáng có của một kiếp này sẽ được điều chỉnh lại thoải mái do tác động của luật Nghiệp báo trong kiếp tới hoặc kế tiếp nữa. Tôi tin rằng các chơn sư có tuyên bố thậm chí có rất nhiều thời giờ để quyết toán; thật vậy xét về lâu về dài thì sự đau khổ không đáng phải chịu sẽ tác động giống như một vận may nếu như không có trường hợp này xảy ra, nhờ rút được những nhận xét thuần túy khoa học về những sự kiện trong giáo lý mà tôn giáo đã phát triển ra với đầy hảo ý, đôi khi người ta cũng an ủi được cho kẻ bị phiền não đau khổ.
Trong khi bằng cách này, giáo lý bí truyền đưa ra được một giải pháp bất ngờ cho những hiện tượng gây lúng túng nhất trong cuộc sống, thì nó làm như thế mà không phải hi sinh bất cứ điều gì theo chiều hướng những thuộc tính mà chúng ta có quyền trông mong nơi một khoa học tôn giáo chân chính. Nổi bật lên trong những lời khẳng định mà chúng ta có thể đưa ra dựa vào hệ thống này đó là: nó không coi là bất công cả xét theo chiều hướng đối xử bất công đối với những người không đáng phải chịu hoặc mang lại lợi ích cho những kẻ không xứng đáng; và sự công bằng trong tác động của nó phải được thể hiện nơi những sự việc lớn lao cũng như sự việc nhỏ nhoi. Câu châm ngôn hợp lệ “Pháp luật không quan tâm tới những điều nhỏ nhặt” là một phương tiện né tránh để cho nhân loại vốn dễ sai lầm khỏi phải chịu hậu quả của những điều bất toàn của chính mình. Trong hóa học hoặc cơ học không hề có một điều gì giống như sự thờ ơ với những chuyện nhỏ mọn. Thiên nhiên tác động trong thế giới vật lý đáp ứng chính xác với những nguyên nhân nhỏ cũng chắc chắn như những nguyên nhân lớn, và xét theo bản năng chúng ta có thể cảm thấy chắc chắn rằng trong những tác động tâm linh, thiên nhiên cũng không có cái thói quen vụng về coi những điều nhỏ mọn là không quan trọng và lờ đi những món nợ nhỏ trong khi chỉ xét đến việc trả những món nợ lớn, giống như một thương gia mà tính liêm khiết rất khả nghi bằng lòng tôn trọng những khoản nợ lớn lao đến mức đủ để bị pháp luật cưỡng chế. Thế mà những hành vi nho nhỏ trong cuộc sống, dù tốt hay xấu đều tất nhiên bị lờ đi trong bất kỳ một hệ thống nào dám đem vấn đề tối hậu ra đánh cược, chấp nhận hoặc loại bỏ cái tình huống thánh thiện đồng nhất hoặc hầu như là đồng nhất. Ngay cả khi xét về công và tội vốn chỉ có liên quan tới những hậu quả tâm linh, thì ta không thể có một giải đáp chính xác nào của Thiên nhiên ngoại trừ việc vận dụng cái tình trạng được phân bậc vô hạn của kiếp tồn tại tâm linh mà giáo lý bí truyền mô tả là trạng thái Devachan. Nhưng sự phức tạp mà ta phải đề cập tới còn lớn lao hơn so với đủ thứ tình huống mà kiếp tồn tại Devacahn có thể cung ứng được. Không một hệ thống hậu quả nào đeo đuổi theo loài người bên kia cửa tử mà giờ đây ta quan sát lại có thể được thừa nhận là thích ứng một cách hợp khoa học với trường hợp khẩn cấp này trừ phi nó tương ứng với cái ý thức công bằng liên quan đến đủ thứ hành vi và thói quen của kiếp sống nói chung, kể cả những hành vi chỉ có liên quan tới kiếp sống trên cõi trần và không thấm đượm màu sắc đúng hoặc sai.
Thế mà chỉ khi con người quay về với kiếp sống trên cõi trần thì ta mới có thể quan niệm được việc y gặt hái kết quả chính xác do những nguyên nhân thứ yếu mà y đã gây ra trong kiếp sống nơi ngoại giới vừa qua. Như vậy, khi khảo sát tỉ mỉ vấn đề này (tức là luật Nghiệp báo mà cho đến nay dưới dạng công truyền tỏ ra không hấp dẫn xiết bao đối với những người nghiên cứu Phật giáo) thì chẳng lấy gì làm lạ khi ta thấy nó chẳng những dung hòa được với ý thức công bình, mà còn tạo ra được phương pháp tác động tự nhiên duy nhất mà ta có thể tưởng tượng ra được. Một khi ta đã nhận ra được cái cá tính vẫn tiếp tục xuyên suốt mọi kiếp luân hồi do nghiệp báo với hàng dãy các kiếp sống tâm linh tương ứng chèn vào giữa mỗi kiếp sống nơi ngoại giới, thì ta nên nhớ rằng cái tính đối xứng tuyệt diệu của trọn cả hệ thống này không hề bị tổn thương bởi cái đặc tính dường như là đáng ghê tởm mà thoạt nhìn ta cứ chỉ trích; đó là việc chơn thần luân hồi cứ bắt buộc phải lãng quên. Ngược lại, sự lú lẫn quên đi này thật ra chính là điều kiện duy nhất mà cuộc sống nơi ngoại giới có thể được khởi sự trở lại một cách công bình tốt đẹp. Ít có kiếp sống nào trên trần thế hoàn toàn thoát khỏi những bóng đen vốn là sự hồi tưởng lại những điều gây u uất cho một việc làm lại cuộc đời đối với phàm ngã trước kia. Và nếu người ta lập luận rằng việc quên mất kiếp sống vừa qua là lãng phí kinh nghiệm và nỗ lực cùng với những thành tựu trí tuệ mà ta phải vất vả nhọc công mới đạt được, thì sự phản đối đó chỉ có thể được nêu lên do người ta quên mất rằng còn có sự sống nơi Devachan trong đó những nỗ lực và thành tựu như thế đâu có bị hoang phí mà chính là mầm mống của một vụ gặt hái nguy nga những kết quả tâm linh dành cho con người. Cũng giống như vậy, khi ta càng quan tâm tới giáo lý bí truyền, thì ta càng thấy rõ rằng mọi lời phàn đối đưa ra đều được sẵn sàng giải đáp và dường như người ta chỉ phản đối do có một quan điểm xuất phát từ sự hiểu biết chưa đầy đủ.
Khi chuyển từ những nhận xét trừu tượng sang những nhận xét khác một phần nào được đan xen với những vấn đề thực tế, thì chúng ta có thể so sánh giáo lý bí truyền với những sự kiện quan sát được trong Thiên nhiên xét về nhiều phương diện ngõ hầu trực tiếp kiểm tra được những giáo huấn của nó. Một khoa học tâm linh muốn tiên đoán thành công được sự thật tuyệt đối ắt phải ăn khớp với những sự kiện trên trần thế bất cứ khi nào mà khoa học này có tác động trên trần thế. Một giáo điều tôn giáo mâu thuẫn rành rành với những gì hiển nhiên là đúng sự thật về mặt địa chất học và thiên văn học thì chỉ có các nhà thờ và các giáo hội mới bằng lòng dung dưỡng nó, chứ còn triết học nghiêm chỉnh cũng thấy nó không đáng để mình xem xét đến. Vậy thì giáo lý bí truyền ăn khớp như thế nào với địa chất học và thiên văn học?
Cũng chẳng có gì quá đáng khi bảo rằng nó cấu thành cái hệ thống tôn giáo duy nhất hòa nhập dễ dàng với những sự thật trên cõi trần được phát triển ra qua công trình khảo cứu hiện đại trong những ngành khoa học này. Nó chẳng những hòa nhập với (theo nghĩa là dung nạp được) giả thuyết về tinh vân cùng với sự kết địa tằng của các lớp đất đá, mà có thể nói nó còn nhảy bổ vào trong vòng tay của những sự kiện này và nó không thể tiến bộ mà không có những sự kiện đó. Nó không thể tiến bộ nếu không có những khám phá vĩ đại của sinh học hiện đại, và với vai trò là một hệ thống được giới thiệu để cho thời đại văn minh khoa học xem xét đến, nó không thể bỏ qua được những thành tựu mới nhất của khoa địa lý học vật thể.
Dĩ nhiên sự kết thành địa tằng của lớp vỏ trái đất là bằng chứng rõ rệt hữu hình của những tai biến xảy ra giữa các giống dân. Khoa học vật thể đã thoát ra được cái thói quen nhút nhát do hậu quả của việc bị tôn giáo ngu tín đàn áp một cách xấc xược trong vòng mười lăm thế kỷ, nhưng nó vẫn còn đôi chút rụt rè khi xét đến những giáo điều, đó chỉ là vì áp lực của thói quen thôi. Cứ như thế thì địa chất học đã bằng lòng bảo rằng đại lục này hoặc đại lục kia theo chứng cớ của thềm lục địa ắt đã phải hơn một lần chìm xuống đáy biển rồi lại được nâng cao lên trên mực nước biển. Nó vẫn còn chưa quen với việc thoải mái ứng dụng những tư liệu của chính mình vào việc suy đoán xâm lấn sang địa hạt của tôn giáo. Nhưng chắc chắn là nếu ta cần địa chất học thuyết giải mọi sự kiện thành ra một lịch sử trước sau như một về trái đất, đưa ra những giả thuyết có khả năng đúng nhất mà nó có thể phát minh ra được nhằm lấp đầy những khoảng trống về tri thức của mình, thì nó ắt phải dựng lên một lịch sử loài người đại khái là cũng giống như những gì được phác họa trong chương trước kia bàn về Các Đại Chu Kỳ Thế Giới. Và các bậc đạo sư bí truyền có đoan chắc với chúng tôi rằng khi những phát hiện của địa chất học tiến bộ thêm nữa thì người ta sẽ nhận thấy rằng giáo lý bí truyền tương ứng còn mật thiết hơn nữa với những di tích hóa thạch của thời xa xưa. Chúng ta đã thấy các chuyên gia của Challenger xác nhận sự tồn tại châu Atlantis, mặc dù đề tài này thuộc về một lớp vấn đề không hấp dẫn đối với thế giới khoa học nói chung, khiến cho nói chung người ta không đánh giá cao những nhận xét ủng hộ việc có một lục địa bị thất tung. Các nhà địa chất học có suy tư đều hoàn toàn sẵn lòng công nhận rằng xét về những lực tạo hình cho trái đất này, thì cái thời kỳ nằm trong giới hạn truy nguyên lịch sử có thể là một thời kỳ tương đối trì trệ và thay đổi chậm chạp. Những sự biến thái theo tai biến trước kia có thể đã được thêm vào cho những sự biến thái sụp xuống dần dần hoặc trồi cao lên và bị làm trơ trụi. Chỉ còn một hai bước nữa thì người ta đã tiến tới việc công nhận sự thật mà chẳng ai còn có thể bắt lỗi là một giả thuyết nữa; sự thật này là các sự nổi lên hoặc chìm xuống của các lục địa lớn đều diễn ra một cách luân phiên. Trọn cả bản đồ của thế giới chẳng những đôi khi có những hình dạng mới (giống như những bức hình trong một kính vạn hoa khi các mảnh vụn có màu sắc được sắp xếp theo những kiểu mới lạ khác) mà còn phải chịu những sự biến đổi tái diễn theo hệ thống, vốn phục hồi lại những sự sắp xếp trước kia qua những khoảng thời gian khổng lồ.
Tuy nhiên, trong khi chờ đợi những sự khám phá thêm nữa, thì có lẽ phải công nhận rằng chúng ta đã có đủ cả một khối tri thức địa chất học để củng cố cho khoa vũ trụ khởi nguyên luận của giáo lý bí truyền. Giáo lý này không nên được phổ biến cho thế giới nói chung chừng nào chưa có được loại tri thức như thế dọn đường để tiếp nhận nó; ta khó thể coi điều này là do sự vô ý vô tứ của những đấng nắm giữ giáo lý bí truyền. Ta vẫn còn phải chờ xem liệu thế hệ hiện nay có gắn đủ tầm mức quan trọng cho điều tương ứng với nó mà người ta đã nhận biết được trong Thiên nhiên bằng những cách khác hay chăng.
Dĩ nhiên sự tương ứng này có thể được truy nguyên trong khoa sinh học cũng dứt khoát như trong khoa địa chất học. Cái thuyết tổng quát của Darwin về việc Con người Thoát thai từ giới động vật đâu phải là sự hỗ trợ duy nhất mà ngành khoa học này đưa ra ủng hộ giáo lý bí truyền. Những nhận xét tỉ mỉ mà giờ đây người ta đang tiến hành trong khoa phôi thai học đặc biệt là thú vị vì chúng soi sáng cho nhiều hơn nữa một bộ môn của giáo lý này. Như vậy cái sự thật giờ đây đã quen biết theo đó những giai đoạn lần lượt xảy ra của sự phát triển con người trước lúc ra đời vốn tương ứng với quá trình tiến hóa của con người qua những dạng khác nhau của đời sống động vật; cái chân lý đó đâu kém gì một sự khải huyền xét về mọi phương diện tương tự. Nó chẳng những củng cố cho chính giả thuyết về sự tiến hóa, mà còn minh họa một cách đáng kể được đường lối tác động của Thiên nhiên trong khi làm tiến hóa ra các giống dân mới vào lúc bắt đầu những chu kỳ tuần hoàn lớn. Khi một đứa trẻ được phát triển ra từ một mầm mống có cấu tạo đơn giản đến nỗi mà nó tiêu biểu cho loài động vật – thậm chí cả loài thực vật nữa – còn ít hơn tiêu biểu cho loài khoáng vật, thì có thể nói là ta đã lướt qua cái giai bậc tiến hóa quen thuộc. Ý tưởng về sự tiến bộ vốn phải mất bao nhiêu thời đại mới thể hiện ra được một chuỗi mắt xích liên tục trong lần đầu tiên, rồi lại được ghi khắc mãi mãi vào trong ký ức của Thiên nhiên một lần cho dứt khoát; và từ đó trở đi ta có thể nhanh chóng phục hồi lại chúng theo thứ tự chỉ nội trong vài tháng. Sự tiến hóa mới mẻ của nhân loại trên mỗi hành tinh cũng như đợt sóng triều nhân loại đều sinh hoạt tiến hóa như thế đó. Trong cuộc tuần hoàn thứ nhất, tiến trình này cực kỳ chậm chạp và không tiến được xa. Bản thân những ý tưởng của Thiên nhiên cũng đều đang tiến hóa. Nhưng khi tiến trình này đã được hoàn thành một lần rồi, thì nó có thể được lặp lại một cách nhanh chóng. Trong những cuộc tuần hoàn sau này, xung lực sống đã vượt qua được giai bậc tiến hóa một cách dễ dàng mà ta chỉ có thể quan niệm được nhờ vào sự minh họa do khoa phôi thai học cung cấp. Đây là lời giải thích xem cái tính cách của mỗi cuộc tuần hoàn khác với cuộc tuần hoàn trước đó như thế nào. Công tác tiến hóa vốn đã từng được hoàn thành một lần lại được lặp lại chẳng bao lâu sau đó; thế rồi cuộc tuần hoàn tiến hành cuộc tiến hóa riêng mình với tốc độ khác hẳn, cũng như đứa trẻ một khi đã được hoàn chỉnh lên tới mức loại hình con người thì lại tiến hành sự tăng trưởng của cá nhân mình một cách chậm chạp, tỉ lệ với những giai đoạn trước kia trong sự phát triển ban sơ của nó.
Tôi không cần phải so sánh tỉ mỉ Phật giáo công truyền với các quan niệm về Thiên nhiên mà giờ đây tôi đã nêu ra – quả thật là ngắn gọn khi xét về tầm cỡ và mức quan trọng, nhưng cũng đủ bao quát để cung cấp cho độc giả một ý niệm tổng quát về hệ thống trong toàn bộ phạm vi bao la của nó. Nhờ có thông tin mà chúng tôi giờ đây đã trao truyền, những người nghiên cứu lão luyện hơn về kho tài liệu văn chương Phật giáo ắt sẽ áp dụng được tốt hơn những bí quyết của mình để giải quyết những câu đố nhằm phát hiện được ý nghĩa của những câu đố đó. Giờ đây ta đã lấp đầy đúng mức những khoảng trống trong kho sử liệu công truyền của giáo lý Đức Phật, và ta đã thấy rõ rằng tại sao lại bỏ trống như vậy. Chẳng hạn như trong quyển sách của ông Rhys Davids, tôi thấy có đoạn sau đây: “Phật giáo không thử ra sức giải quyết vấn đề nguồn gốc bản sơ của vạn hữu”; rồi khi trích dẫn Quyển sổ tay Phật học của ông Hardy, ông lại viết tiếp “Khi Malunka hỏi Đức Phật liệu thế giới này tồn tại vĩnh hằng hay không vĩnh hằng thì Đức Phật không trả lời ông; lý do của điều này là Đức Thế Tôn cho rằng một sự cật vấn như thế chẳng mang lại lợi ích gì.” Thật ra đề tài rõ rệt là bị bỏ qua vì ta không thể bàn tới nó chỉ bằng một câu trả lời minh bạch là có hoặc không mà không khiến cho kẻ cật vấn bị đánh lạc hướng. Muốn cho y khỏi bị đánh lạc hướng thì ta cần phải trình bày toàn bộ giáo lý hoàn chỉnh về sự tiến hóa của dãy hành tinh, một lời giải thích mà Đức Phật cho rằng cộng đồng nhân loại vào thời đó chưa đủ chín muồi về mặt trí tuệ. Việc suy diễn từ sự im lặng của ngài, cho rằng ngài coi câu cật vấn này là chẳng mang lại lợi ích gì, đó chính là một lầm lẫn dĩ nhiên cũng đủ cho thấy vì người ta không có được bất kỳ tri thức phụ trợ nào, cho nên thực ra không thể có được sự hiểu biết đầy đủ. Không một hệ thống tôn giáo đã từng được công khai sử dụng khi bàn về vấn đề nguồn gốc của vạn hữu; giờ đây ta ắt thấy rằng điều đó chẳng khác nào chỉ gãi trên bề mặt của cái sự suy đoán khi so sánh với những sự khảo cứu rốt ráo của khoa học bí truyền; Đức Phật là một đấng tiêu biểu lỗi lạc về khoa học bí truyền cũng chẳng khác nào ngài là một bậc đạo sư lỗi lạc về mặt đạo đức đối với giới bình dân.
Những kết luận khẳng định về điều mà Phật giáo có giảng dạy – ông ta đã triển khai nó một cách rất kỹ lưỡng – đã được ông Rhys Davids nêu ra không kém phần thiếu chính xác so với những kết luận phủ định mà chúng tôi vừa trích dẫn. Mãi cho đến nay, tất cả những kết luận như thế tất yếu là không chính xác. Tôi xin trích dẫn một ví dụ không phải để làm mất giá trị việc nghiên cứu kỹ lưỡng (nó đã là thành quả của việc nghiên cứu kỹ lưỡng), mà để chứng tỏ bằng cách nào sự minh giải hiện nay đối với trọn cả đề tài này đã thâm nhập vào mọi kẽ hở và đưa ra một khía cạnh hoàn toàn mới cho mọi đặc điểm của nó.
“Phật giáo coi sự tồn tại của thế giới vật chất cùng với chúng sinh hữu tình bên trong đó là một sự kiện tối hậu; Phật giáo cho rằng vạn vật đều chịu tác dụng của luật nhân quả và vạn vật đều vô thường cứ thay đổi hoài mặc dù ta không nhận ra được. Không có nơi chốn nào mà không có luật vô thường tác động, vì vậy không có thiên đường hoặc địa ngục theo ý nghĩa thông thường. Có những thế giới nơi chư thiên sống trong đó, sự tồn tại của chư thiên ít nhiều có tính cách vật chất tùy theo kiếp trước của họ ít nhiều có tính cách thiêng liêng; nhưng chư thiên cũng chết và các thế giới mà họ ở trong đó cũng bị hoại diệt. Có những nơi chốn hành hình ở đó những ác nghiệp của loài người và chư thiên tạo ra những sinh linh bất hạnh, nhưng khi ác nghiệp tạo ra những sinh linh này đã kiệt quệ, thì những sinh linh đó cũng biến mất, và những thế giới mà các sinh linh đó cư trú cũng không vĩnh hằng. Toàn thể Vũ trụ – trần gian, thiên đường và địa ngục – luôn luôn có khuynh hướng đổi mới hoặc hoại diệt, luôn luôn trong quá trình biến đổi của một loạt những vòng xoay hoặc các chu kỳ mà ta không thể biết và không biết được thủy cũng như chung. Loài người và chư thiên cũng không được ngoại lệ đối với luật vũ trụ tổng quát thành trụ hoại không này; sự thống nhất các lực tạo thành một chúng sinh hữu tình sớm muộn gì cũng phải bị tan rã và chỉ có vô minh với hão huyền mới khiến cho một sinh linh sa đà vào việc mơ mộng cho rằng mình là một thực thể tự tại và có thể tách rời khỏi vũ trụ xung quanh.”
Thế mà chắc chắn rằng ta có thể coi đoạn văn nêu trên cho thấy các ý niệm bình dân của triết học Phật giáo rõ ràng là xa lạ xiết bao đối với triết học bí truyền chân thực. Chắc chắn là triết học không tìm thấy trong vũ trụ cũng như trong niềm tin của bất kỳ một nhà tư tưởng thực sự giác ngộ nào (cho dù là Á đông hay Âu Tây) có thiên đường và địa ngục bất biến vĩnh hằng trong huyền thoại của giới tu sĩ; và “thế giới mà chư thiên đang sống” v. v. . . cũng như những lớp nội giới có thực một cách sinh động của trạng thái Devachan quả thật là đều có trong Thiên nhiên đủ cả. Tất cả những gì còn lại trong các quan niệm bình dân của Phật giáo mà ta vừa duyệt qua cũng đều như thế. Nhưng dưới dạng bình dân, chúng là những bức biếm họa gần nhất của những đề tài tương ứng trong tri thức bí truyền. Như vậy ý niệm về sự chấp ngã là hão huyền cũng như sự tan rã tối hậu của một chúng sinh hữu tình là hoàn toàn không thể hiểu được nếu không có những lời giải thích đầy đủ hơn liên quan đến A tăng kỳ kiếp của kiếp sống cá thể; cho đến nay chúng ta không thể quan niệm được điều này nhưng vẫn có những tình huống hằng tiến hóa lên các trạng thái cao tột về tâm linh xuất lộ trước khi có sự nảy sinh trong một tương lai xa xăm khôn tả của một trạng thái không còn chấp ngã. Trạng thái đó chắc chắn phải thuộc về một thời điểm nào đó trong tương lai, nhưng nó có bản chất là một điều gì đó mà dù sao đi nữa các triết gia chưa được điểm đạo cũng không bao giờ hiểu được cho dù chỉ là suy đoán một cách chập chờn le lói nhất. Cũng như ý niệm về Niết Bàn, ý nghĩa về ngã chấp hư ảo mà các tác giả viết về giáo lý Phật giáo rút ra từ những nguồn công truyền tiếc thay lại bị vướng mắc với một số những yếu tố xa xôi của giáo lý vĩ đại gây cho họ cái cảm tưởng rằng họ đang bàn về các quan điểm của Phật giáo đối với tình trạng con người ngay sau khi chết. Ta có thể cảm thấy phát biểu này hầu như là vô lý, như vậy là nó đâm ra lạc lỏng trong trọn cả giáo lý; thế nhưng nó chẳng những không còn là một điều không ai hiểu nổi, mà còn là một chân lý siêu việt, khi được trả lại vị trí đúng đắn của mình trong tương lai với những chân lý khác. Tôi xin nói thêm rằng sự xuất lộ tối hậu của Thần-Nhân toàn bích tức là đấng Dhyan Chohan trong trạng thái tâm thức tuyệt đối của bát niết bàn (paranirvana) chẳng dính dáng gì đến “cái tà thuyết về cá thể”, vốn có liên quan tới những phàm ngã trên cõi trần. Sau này tôi sẽ trở lại vấn đề này.
Ông Rhys Davids có nói cũng đủ để ám chỉ phần tóm tắt giáo lý Phật giáo được trích dẫn ở trên: “Những giáo lý như thế đâu phải chỉ là đặc thù đối với Phật giáo, mà những ý tưởng tương tự như vậy cũng là nền tảng của các triết lý Ấn Độ thời sơ khai.” (Chắc chắn do bởi sự kiện Phật giáo khi xét về mặt giáo lý cũng chính là triết học của Ấn Độ thời sơ khai). “Quả thật ta cũng thấy chúng nơi những hệ thống khác cách xa chúng về mặt không gian và thời gian, khi bàn tới sự thật có trong những giáo huấn này, Phật giáo có thể đưa ra một phát biểu có tính cách dứt khoát và vững bền hơn, nếu nó không vay mượn một tín ngưỡng có trong một giáo lý kỳ cục về sự chuyển kiếp; giáo lý này dường như đã xuất lộ một cách độc lập, nếu không phải là đồng thời ở Thung lũng sông Hằng và Thung lũng sông Nile. Tuy nhiên thuật ngữ chuyển kiếp đã được sử dụng vào nhiều lúc khác nhau và ở những nơi chốn khác nhau dành cho các thuỵết tương tự như nhau, nhưng thật ra lại rất khác nhau. Khi chọn dùng cái ý tưởng tổng quát xuất phát từ Bà la môn giáo thời kỳ hậu Phệ đà, Phật giáo đã biến đổi nó và quả thật làm phát sinh ra một giả thuyết mới. Cũng giống như giả thuyết cũ, giả thuyết mới này có liên quan đến sự sống trong các kiếp đã qua và sắp tới, chứ nó chẳng đóng góp được gì để quả quyết dứt điểm được vấn đề điều ác trong kiếp này mà người ta giả sử rằng nó phải giải thích được.”
Tác phẩm này sẽ xua tan cái quan niệm sai lầm đưa đến những nhận xét đó. Phật giáo không tin vào bất cứ điều gì giống như sự chuyển đi chuyển lại giữa các hình tướng của loài thú và loài người, hầu hết mọi người đều quan niệm rằng nguyên tắc chuyển kiếp có ngụ ý như vậy. Sự chuyển kiếp trong Phật giáo là sự chuyển kiếp theo thuyết tiến hóa Darwin mà khoa học đã phát hiện ra hoặc đúng hơn là để thám hiểm một cách rốt ráo theo cả hai hướng. Chắc chắn là các tác phẩm Phật giáo có ám chỉ tới những kiếp trước kia trong đó ngay cả chính Đức Phật, ba hồi cũng là một loài thú này và ba hồi là loại thú khác. Nhưng những điều đó đề cập tới diễn trình tiến hóa xa xăm trước thời có nhân loại mà linh ảnh đã được phát triển trọn vẹn của Đức Phật giúp cho ngài có được một tầm nhìn hồi cố. Trong bất kỳ một tác phẩm chân chính nào của Phật giáo, ta cũng chẳng bao giờ tìm thấy được sự hậu thuẫn cho ý niệm bất kỳ một tạo vật con người nào một khi đã đạt tới giai đoạn làm người lại trở về giới động vật. Lại nữa, trong khi quả thật chẳng có điều gì vô hiệu lực hơn là việc giải thích nguồn gốc của điều ác bằng một biếm họa về sự chuyển kiếp mà người ta tưởng rằng có thể trở lại kiếp làm thú, thì sự tái sinh lũy tiến của Bản ngã con người thể hiện ra thành kiếp sống nơi ngoại giới, kết hợp với tác động của Nghiệp báo trên cõi trần, và việc tất yếu phải vận dụng tự do ý chí bên trong giới hạn của đặc quyền này, thì tất cả những điều đó rốt cuộc sẽ giải thích được trọn vẹn nguồn gốc của điều ác. Thiên nhiên ra sức gieo trồng một vụ mùa mới bao gồm các đấng Dhyan Chohan bất cứ khi nào có một hệ thống hành tinh phải được triển khai tiến hóa; nhân cơ hội đó, điều ác tạm thời tất yếu phải được phát triển do hậu quả không thể tránh được của tác động thuộc những lực hoặc tiến trình vừa nêu, bản thân những lực hoặc tiến trình này vốn là những giai đoạn không thể tránh khỏi trong công trình vĩ đại đang được khởi động.
Đồng thời, độc giả nào giờ đây tiếp thu quyển sách của ông Rhys Davids và khảo sát những đoạn dài dòng nói về đề tài này, và bàn về ngũ uẩn (skandhas), độc giả đó sẽ nhận ra được thật là một nhiệm vụ tuyệt vọng xiết bao khi ta thử ra sức suy diễn bất kỳ một thuyết hợp lý nào về nguồn gốc của điều ác dựa trên những tài liệu công truyền mà quyển sách của ông Davids có sử dụng. Những tài liệu như thế cũng không thể gợi ra được lời giải thích chân thực về đoạn kinh ngay sau đây mà ta trích ra từ kinh Brahmajala:
“Sau khi đã chứng tỏ việc tin vào sự tồn tại vĩnh hằng của Thượng Đế và thần linh là vô căn cứ biết chừng nào, thì Đức Phật tiếp tục bàn luận về vấn đề linh hồn, và nêu ra ba mươi hai tín ngưỡng liên quan tới vấn đề đó mà ngài tuyên bố là sai lầm. Những điều này được trình bày tóm tắt như sau: ‘Dựa vào nguyên tắc đó hoặc dựa trên cơ sở đó, liệu các tì khưu và các người Bà la môn có ủng hộ giáo lý về kiếp sống tương lai chăng? Họ dạy rằng linh hồn có tính cách vật chất hoặc phi vật chất, hoặc vừa là vật chất vừa là phi vật chất, hoặc chẳng là vật chất cũng chẳng là phi vật chất. Linh hồn sẽ có một trong nhiều hình thái ý thức; tri thức của linh hồn hoặc là ít hoặc là vô biên, linh hồn ở trong một trạng thái hoan lạc hoặc khổ não, hoặc chẳng sướng cũng chẳng khổ. Đây là mười sáu tà thuyết dạy về sự tồn tại hữu thức bên kia cửa tử. Thế rồi lại có tám tà thuyết dạy rằng linh hồn là vật chất hoặc phi vật chất, hoặc là vừa vật chất vừa là phi vật chất, hoặc chẳng là vật chất cũng chẳng là phi vật chất. Linh hồn vừa hữu hạn hoặc vừa vô hạn, hoặc chẳng hữu hạn mà cũng chẳng vô hạn, linh hồn tồn tại một cách vô thức sau khi chết. Và cuối cùng còn có tám tà thuyết khác dạy rằng linh hồn cũng theo tám cách thức đó, tồn tại sau khi chết ở một trạng thái chẳng hữu thức mà cũng chẳng vô thức. Bài giảng kết thúc như sau: ‘Hỡi chư tì khưu, khi điều ràng buộc bậc đạo sư vào kiếp sống (tức là tanha, ái dục) đã bị cắt đứt, thì thể xác của ngài vẫn còn lại. Trong khi thể xác của ngài vẫn còn, thì chư thiên và loài người còn thấy được bậc đạo sư, nhưng sau khi kiếp sống kết liễu, khi thể xác ngài đã tan rã thì chư thiên và loài người không còn thấy được ngài nữa. Liệu có thể nào dùng một cách thức hoàn chỉnh và dứt khoát hơn để chối bỏ việc có một linh hồn, tức là một điều gì đó thuộc một loại nào đó vẫn tiếp tục tồn tại theo một cách thức nào đó sau khi chết?”
Đối với các nhà nghiên cứu công truyền thì chắc chắn là đoạn văn nêu trên dường như mâu thuẫn rành rành với những giáo huấn khác trong Phật giáo bàn về sự chuyển dời liên tiếp của cùng một cá thể qua nhiều kiếp luân hồi và như vậy xét theo một đường lối tư tưởng khác, nó dường như giả định rằng có tồn tại một linh hồn có thể chuyển di được, điều mà đoạn văn trích dẫn nêu trên rõ ràng là bác bỏ. Nếu không biết rõ về bảy nguyên khí của con người, thì ta không thể dung hòa được những phát biểu riêng rẽ về đủ thứ khía cạnh của vấn đề sự bất tử này. Nhưng bí quyết mà giờ đây chúng ta đưa ra vẫn còn để lại sự mâu thuẫn biểu kiến khiến cho ta chưa hết phần bối rối. Trong đoạn văn vừa trích dẫn nêu trên, Đức Phật đang nói tới phàm ngã tinh anh, còn sự bất tử mà giáo lý bí truyền công nhận lại là sự bất tử của chơn ngã tâm linh. Lời giải thích này đã được trình bày trọn vẹn trong chương bàn về Devachan, và trong những đoạn văn được trích dẫn từ đó qua tác phẩm Vấn đáp giáo lý Phật giáo của Đại tá Olcott. Chính do các mảnh vụn của những điều khải huyền vĩ đại mà quyển sách này bao hàm và đã được trình bày trong vòng hai năm vừa qua trên tạp chí Nhà Thông Thiên Học thì người ta mới thấy được sự dị biệt quan trọng giữa phàm ngã và chơn ngã, khi được áp dụng vào vấn đề sự bất tử của con người, thì điều nêu trên đã được định hình thành ra một sự thật có thể hiểu được; nhưng trong những tác phẩm huyền bí trước kia cũng có nhiều điều ám chỉ mà giờ đây ta có thể đề cập tới làm bằng chứng cho sự thật là những tác giả trước kia cũng đều biết rõ về chính giáo lý này. Ta hãy quay sang những tác phẩm huyền bí mới gần đây nhất trong đó bức màn vô minh vẫn còn chưa được vén lên để cho người ta có thể quan sát một cách vô ý tứ giáo lý chứa bên trong, mặc dù bức màn này đã bị sờn đi ở nhiều chỗ đến mức hầu như trở nên trong suốt, chúng ta vẫn có thể xét bất kỳ đoạn nào trong cả tá đoạn văn minh họa cho điều nêu trên. Sau đây là một đoạn văn:
“Các triết gia nào muốn giải thích sự giáng sinh theo cách thức của mình đều coi tinh thần là một điều gì đó hoàn toàn tách rời khỏi linh hồn. Họ để cho nó tồn tại trong một lớp vỏ tinh vi khi chỉ xét về những sự phóng phát tâm linh tức là những tia của ‘đấng quang huy’. Con người và linh hồn phải chinh phục được sự bất tử của mình bằng cách thăng lên tới nhất nguyên; nếu thành công con người và linh hồn rốt cuộc sẽ liên kết được với nhất nguyên và có thể nói là sẽ được hấp thu vào nhất nguyên. Sự cá thể hóa của con người sau khi chết tùy thuộc vào tinh thần chứ không tùy thuộc vào thể xác và linh hồn. Mặc dù thuật ngữ ‘phàm ngã’ (theo nghĩa mà ta thường hiểu) là phi lý khi được áp dụng theo nghĩa đen cho bản thế bất tử của ta, thế nhưng bản thể này là một thực thể riêng biệt, tự thân nó vốn bất tử và vĩnh hằng; giống như trong trường hợp những kẻ phạm trọng tội không thể cứu chuộc được, khi sợi chỉ chói sáng nối liền tinh thần với linh hồn từ lúc đứa trẻ chào đời đã bị cắt đứt phựt, thì thực thể thoát xác bị bỏ mặc cho số kiếp phải chia sẻ với các loài động vật hạ đẳng để rồi tan rã vào trong chất dĩ thái và có tính cá thể của mình bị tiêu diệt cho dù tinh thần vẫn còn là một thực thể riêng biệt.”— Helena Blavatsky, Nữ thần Isis lộ diện (Quyển 1, trang 315)
Không ai có thể đọc đoạn văn nêu trên (quả thật cho dù chỉ là một phần trong cái chương mà nó được trích dẫn ra) mà không nhận thức được dưới ánh sáng của những lời giải thích được trình bày trong quyển sách này theo đó giáo lý bí truyền mà giờ đây ta đã trình bày trọn vẹn cũng hoàn toàn quen thuộc với người viết đoạn văn nêu trên, mặc dù tôi có đặc quyền được trình bày nó lần đầu tiên thành ra một ngôn ngữ trong sáng và không hiểu lầm được.
Phải có một nỗ lực tâm trí nào đó mới nhận thức được sự khác nhau giữa phàm ngã và chơn ngã, nhưng việc khao khát tiếp tục tồn tại cá thể – luôn luôn nhớ lại trọn vẹn những hoàn cảnh phù du trong kiếp sống trên trần thế hiện nay vốn cấu thành phàm ngã – rõ rệt là chẳng khác gì hơn một sự yếu đuối thoáng qua của xác thịt. Đối với nhiều người, có lẽ vẫn còn là phi lý khi bảo rằng bất kỳ người nào hiện nay đang sống với những hoài niệm ràng buộc vào những năm tháng thời thơ ấu lại cũng chính là một cá thể thuộc một quốc tịch khác hẳn và sống vào một thời kỳ khác hẳn cách đây hàng ngàn năm; sự tương tự này sẽ lại xuất hiện sau một khoảng thời gian giống như thế trong những hoàn cảnh sống hoàn toàn mới thuộc về tương lai. Nhưng cảm xúc “Tôi vẫn là Tôi” giống nhau trải qua ba kiếp sống và trải qua trọn cả trăm kiếp sống; đó là vì cảm xúc đó thâm căn cố đế hơn cảm xúc “Tôi là John Smith có địa vị cao sang, có trách nhiệm nặng nề với những tài sản như thế này và những mối quan hệ như thế khác.” Với vai trò là một ý niệm trong tâm trí, liệu ta có tưởng tượng ra được chăng việc John Smith vốn kế thừa năng khiếu của Tithonus, đôi khi lại đổi tên, cứ mỗi thế hệ qua đi thì lại kết hôn một lần nữa, bị mất tài sản ở nơi này rồi lại thu hoạch được ở nơi khác, khi thời gian trôi qua y bèn quan tâm tới nhiều điều theo đuổi khác nhau; liệu có thể quan niệm được chăng việc một con người như thế chỉ nội trong vài ngàn năm đã quên mất mọi hoàn cảnh liên quan tới kiếp sống hiện nay của John Smith, giống như thể những biến cố trong cuộc đời đó chưa bao giờ xảy ra đối với y? Thế mà Chơn ngã cũng giống như vậy. Nếu ta có thể tưởng tượng ra được điều này thì cái mà ta không thể tưởng tượng được, đó là việc cá thể vẫn còn được liên tục qua một cuộc sống đứt đoạn, bị cắt đứt rồi lại đổi mới vào những khoảng thời gian đều đặn, rồi biến thiên khi trải qua một hoàn cảnh sống thanh tịnh hơn.
Hơn nữa, nó còn giải quyết được sự mâu thuẫn biểu kiến giữa các cá thể liên tiếp đồng nhất với nhau và cá thể “dị thường”; nếu ta thấy giáo lý bí truyền đưa ra “bí nhiệm không thể hiểu nổi” về Nghiệp báo (mà ông Rhys Davids đã trình bày tóm tắt xiết bao), thì đó là vì nó dựa vào một cơ sở hợp khoa học và hoàn toàn có thể hiểu được. Ông Rhys Davids có nói về điều này như sau: Vì Phật giáo “không thừa nhận linh hồn”, cho nên Phật giáo phải cầu cứu tới cái phương tiện tuyệt vọng là một điều bí nhiệm bắc cầu qua vực sâu giữa một kiếp sống này và một kiếp sống khác ở đâu đó, coi là “một sự hư cấu của bộ óc mà thực tế không tồn tại.” Cho dù ông cảm thấy bực mình về điều mà ông coi là sự phi lý của giáo lý đó, thế nhưng ông vẫn kiên nhẫn và vận dụng tài khéo léo trí tuệ để nỗ lực đưa ra một điều gì đó có vẻ giống như một quan niệm thuần lý siêu hình xuất phát từ những phát biểu rối rắm liên quan tới Nghiệp báo trong kinh điển Phật giáo. Ông viết như sau:
“Theo quan điểm của Phật giáo thì việc tránh được cái cực đoan mê tín một đằng là của những kẻ tin vào sự tồn tại riêng rẽ của một thực thể nào đó được mệnh danh là linh hồn, còn một đằng là cái cực đoan phi tôn giáo của những kẻ không tin vào sự báo phục và sự công bằng về mặt đạo đức. Phật giáo tuyên bố rằng mình đã thấu suốt được thuật ngữ “linh hồn” về sự kiện mà nó có dụng ý bao hàm trong đó, và đã phát hiện được thật ra thì không phải như vậy, mà chỉ là một trong hai mươi điều hão huyền khác nhau làm mờ mắt thiên hạ. Tuy nhiên, Phật giáo tin chắc rằng nếu một người gặt hái sự phiền não, thất vọng hoặc đau khổ, thì chính y chứ không ai khác vào một lúc nào đó đã từng gieo rắc sự điên rồ, lầm lẫn, tội lỗi nếu không phải trong kiếp này thì cũng trong một kiếp trước kia. Vậy là trong trường hợp kiếp trước kia, thì liệu kẻ gieo nhân và kẻ gặt quả có đồng nhất với nhau hay chăng? Chỉ đồng nhất ở cái điều duy nhất vẫn còn lại khi con người chết đi và các bộ phận cấu thành thực thể chúng sinh hữu tình đều bị tan rã do kết quả của những sự hành động, lời lẽ và tư tưởng của y tạo thành Nghiệp thiện hoặc Nghiệp ác (theo sát nghĩa thì Nghiệp là tạo tác); chỉ có thực thể đó là không chết. Chúng ta đã quen thuộc với giáo lý ‘một người gieo cái gì thì y sẽ gặt cái đó’, và vì vậy chúng ta có thể thâm nhập được vào cảm xúc của người Phật tử khi một người gặt cái gì thì y ắt đã phải gieo cái đó. Chúng ta đã quen thuộc với giáo lý về tính bất diệt của lực, vì vậy chúng ta có thể hiểu được giáo điều của Phật giáo (cho dù nó có thể trái với các ý niệm Ki Tô giáo của chúng ta đến đâu đi chăng nữa) theo đó không một quyền năng ngoại lai nào có thể hủy diệt được kết quả do hành vi của một con người và chúng phải thể hiện hậu quả trọn vẹn của mình, với cứu cánh rốt cuộc là vui sướng hay cay đắng. Nhưng ở đây có điều đặc thù trong Phật giáo là kết quả của việc một con người làm gì đó có thể nói là không bị tản mạn thành ra nhiều dòng riêng rẽ, mà lại tập trung với nhau để tạo nên một chúng sinh hữu tình mới – mới xét về thành phần cấu tạo và quyền năng, nhưng vẫn giống như vậy xét về bản thể, bản chất, hành động, Nghiệp báo.”
Không một điều gì tài khéo hơn khi thử ra sức phát minh cho Phật giáo một lời giải thích về “điều bí nhiệm” của mình, dựa trên giả định rằng những người đưa ra điều bí mật đó xuất phát từ một “phương tiện tuyệt vọng” nhằm bao che cho việc rút lui ra khỏi một vị trí không phòng thủ được. Nhưng thật ra giáo lý về Nghiệp có một lịch sử đơn giản hơn nhiều và không cần một sự thuyết giải tinh vi như thế. Cũng giống như nhiều hiện tượng khác trong Thiên nhiên vốn có liên quan tới thời gian tương lai, Nghiệp được Đức Phật tuyên bố là một điều bí nhiệm không thể hiểu nổi và vậy là những vấn đề liên quan tới nó bị dẹp sang một bên. Nhưng ngài không có ý muốn nói rằng vì quần chúng không hiểu được Nghiệp cho nên Nghiệp hoặc bất kỳ điều bí nhiệm nào khác cũng là không thể hiểu được đối với các điểm đạo đồ trong giáo lý bí truyền. Ta không thể giải thích về Nghiệp mà không đề cập tới giáo lý bí truyền, nhưng một khi ta lĩnh hội được những nét phác thảo của khoa học đó, thì cũng như nhiều vấn đề khác, Nghiệp trở nên một vấn đề tương đối đơn giản, nó chỉ là một bí nhiệm theo ý nghĩa cũng giống như các bí nhiệm khác, chẳng hạn như ái lực của acit sulphuric đối với đồng, và acit sulphuric có ái lực cao hơn đối với sắt. Dù sao đi nữa, cũng giống như khoa hóa học đối với các “đệ tử tại gia” (nghĩa là tất cả những người nghiên cứu hóa học chỉ xét về những hiện tượng vật lý thôi) cũng vậy, chắc chắn là khoa học bí truyền cũng dành một số điều bí nhiệm cho các đệ tử tại gia mà người ta còn chưa thăm dò được. Tôi không sắp sửa dùng những sự thay đổi chính xác về phân tử để giải thích những ái lực cao siêu tạo thành Nghiệp báo vốn được tích trữ trong các yếu tố thường tồn của nguyên khí thứ năm. Nhưng khoa học thông thường cũng đâu có đủ tư cách để bảo xem liệu khi một phân tử khí oxy vốn bỏ rơi phân tử khí hydro mà nó liên kết với trong giọt nước mưa, để rồi lại gắn vào một phân tử sắt trên cái lan can mà nước mưa rơi xuống, thì điều gì xui khiến nó làm như vậy. Nhưng cái đốm rỉ sét đã được tạo ra và người ta cho rằng mình đã giải thích một cách hợp khoa học về sự kiện này khi nhận xét được và cầu viện tới các ái lực hóa học.
Đối với Nghiệp báo cũng thế, nguyên khí thứ năm tiếp thu những ái lực của các hành vi thiện và ác khi nó sống trải qua cuộc đời rồi lại theo chân chúng nhập vào Devachan, ở đây có thể nói là những ái lực nào thích ứng được với bầu không khí của trạng thái đó thì sẽ đơm hoa kết trái, sinh sôi nẩy nở vô cùng, để rồi khi cạn kiệt hết năng lượng lại một lần nữa chuyển sang thế giới ngoại cảnh. Và cũng chắc chắn như phân tử khí oxy khi có mặt cả trăm phân tử khác sẽ bay tới cái phân tử nào mà nó có ái lực nhiều nhất; cũng vậy, chơn thần nặng trĩu Nghiệp báo sẽ bay tới cái kiếp lâm phàm nào mà sự hấp dẫn bí nhiệm sẽ liên kết nó với kiếp lâm phàm đó. Cũng chẳng có cái tiến trình nào tạo ra một chúng sinh hữu tình mới, ngoại trừ theo ý nghĩa của cái cấu tạo thể chất mới được triển khai ra chỉ là một công cụ mới cho sự cảm giác. Cái ngụ bên trong cấu trúc thể chất đó, cái cảm thấy vui hay buồn vẫn là cái Bản ngã cũ – quả thật là nó đã quên lãng đi những cuộc phiêu lưu cuối cùng trên trần thế vừa qua nhưng nó vẫn phải gặt lấy kết quả của những cuộc phiêu lưu đó – vẫn là cái xúc cảm “Tôi vẫn là Tôi” giống như trước kia.
Ông Rhys Davids cho rằng “tất cả điều này thật là kỳ cục”, lời giải thích trong triết học Phật giáo thông qua những tài liệu công truyền đã khiến cho ông cảm thấy rằng “chúng dường như là đâu phải không hấp dẫn trong vòng 2.300 năm và hơn nữa, đối với nhiều tâm hồn thành khẩn đang tuyệt vọng, thì những tài liệu này tỏ ra đáng tin cậy khi đóng vai trò dường như là một cái cầu hoành tráng mà Phật giáo đã ra sức bắc qua con sông những bí nhiệm và phiền não của cuộc sống . . . Họ đã không thể không thấy rằng chính cái nốt chủ âm đó, cái cầu nối giữa kiếp này và kiếp khác chỉ là một ngôn từ, là một cái giả thuyết tuyệt vời, cái hư vô bàng bạc, cái nguyên nhân hư ảo vượt ngoài tầm của lý trí, tức là cái ân huệ đã được cá thể hóa và đang cá thể hóa của Nghiệp báo.”
Quả thật là kỳ lạ nếu Phật giáo được xây dựng trên một nền tảng mong manh như thế, nhưng sự mong manh biểu kiến của nó chỉ do bởi sự kiện là cái cấu trúc tri thức hùng vĩ của nó cho đến nay đã bị che khuất đi. Giờ đây khi bức màn che giấu giáo lý nội môn đã được vén lên, thì ta ắt thấy bất kỳ tín điều nào của nó cũng đâu có tùy thuộc bao nhiêu vào những điều tinh tế lờ mờ của khoa siêu hình học. Chừng nào mà những điều tinh tế này còn bao vây che kín Phật giáo, thì chúng chỉ được những nhà thuyết giải ngoại lai xây dựng thành ra những điều ẩn ý tản mạn về giáo lý mà người ta không thể hoàn toàn bỏ qua so với cái hệ thống đơn giản đạo đức được qui định cho quần chúng.
Trong điều thực sự cấu thành Phật giáo, ta thấy có một tính đơn giản tột độ giống như tính đơn giản của chính Thiên nhiên vậy; một định luật duy nhất chia chẻ thành ra vô số nhánh nhóc với những chi tiết phức tạp. Quả thật là bản thân Thiên nhiên vô cùng phức tạp trong khi biểu lộ ra, tuy nhiên mục đích của nó lại đồng nhất một cách bất biến, cũng vậy ta luôn luôn có giáo lý bất di bất dịch về các nguyên nhân và hậu quả, đến lượt các hậu quả lại trở thành các nguyên nhân trong một tiến trình tuần hoàn vô tận.
H Ế T