Cho đến nay, vì không có được phương pháp nào tốt hơn để tìm ra chân ý nghĩa của Niết Bàn, cho nên các học giả Phật giáo thường chẻ sợi tóc làm tư, khảo sát ngữ căn và các bộ phận cấu thành nó. Người ta cứ hi vọng sẽ nhận biết được mùi thơm của một bông hoa bằng cách xé tờ giấy mà nó được vẽ trên đó. Đối với những đầu óc đã được đào tạo để nghiên cứu bằng trí phàm (mọi đầu óc vào thế kỷ thứ 19 của người Tây phương đều trực tiếp hoặc gián tiếp được đào tạo như vậy), thì thật là khó hiểu cái trạng thái tâm linh đầu tiên vượt trên cuộc đời này, tức là trạng thái Devachan. Muốn hiểu tình trạng đó mà chỉ hiểu được một phần thì rõ ràng là ta cần phải có một quan năng cao hơn thì mới liễu ngộ được nó, hơn nữa không thể dùng tâm trí với từ ngữ để áp đặt ý nghĩa của nó lên từ khác. Các vị đạo sư chính qui về huyền bí học đều áp dụng phương pháp thoạt tiên là khơi hoạt cái quan năng cao siêu này nơi người đệ tử, nhiên hậu mới đặt người đệ tử vào vị thế tự mình quan sát vấn đề.
Thế mà thường thường có bảy trạng thái Devachan, thích hợp với những mức độ giác ngộ tâm linh khác nhau mà đủ loại ứng viên có thể đạt tới được; ở Devachan có thể nói là có sắc giới (rupa lokas) và vô sắc giới (arupa lokas), nghĩa là những trạng thái tâm thức nội giới có liên quan tới hình tướng và những trạng thái siêu việt được hình tướng. Thế mà trạng thái Devachan cao nhất nơi vô sắc giới cũng không thể sánh kịp với trạng thái mầu nhiệm của tính linh thuần túy mà ta gọi là Niết Bàn.
Trong diễn trình bình thường của thiên nhiên suốt một cuộc tuần hoàn, khi chơn thần đã hoàn thành cuộc du hành vĩ đại từ hành tinh thứ nhất tới hành tinh thứ bảy và tạm thời đã kết liễu sự tồn tại của mình nơi đó (chấm dứt mọi sự tồn tại đa dạng ở đó cũng như những thời kỳ Devachan riêng biệt giữa hai kiếp sống), thì Chơn ngã trải qua một tình trạng tâm linh khác với tình trạng Devachan; tình trạng này chơn ngã yên nghỉ trong một thời gian vô cùng lâu trước khi tiếp tục cuộc hành trình qua các thế giới của mình. Tình trạng này có thể được coi như là một loại Devachan đối với các trạng thái Devachan, là một kiểu duyệt lại các trạng thái Devachan do đó nó phải cao siêu hơn các trạng thái được duyệt lại, cũng chẳng khác nào trạng thái Devachan thuộc về một kiếp sống trên cõi trần cao siêu hơn trạng thái khát vọng tâm linh nửa vời hoặc thôi thúc tình cảm theo kiểu phàm trần. Theo ngôn ngữ của khoa học bí truyền thì thời kỳ đó (các thời kỳ liên chu kỳ có sự phúc lạc phi thường so sánh với bất kỳ những điều gì xảy ra trước đó kể cả trạng thái nội giới của những hành tinh trên vòng cung đi lên cao siêu hơn nhiều so với trái đất của ta) được gọi là trạng thái hữu dư y Niết Bàn (state of partial Nirvana). Khi ta đưa trí tưởng tượng vượt xa tới những viễn ảnh vô biên của tương lai, thì ta phải quan niệm mình đang đến gần cái thời kỳ tương ứng với chu kỳ liên hành tinh của nhân loại thuộc cuộc tuần hoàn thứ bảy, trong thời kỳ đó con người đã trở nên giống như thần linh. Sau khi đã hoàn tất những kiếp sống nơi ngoại giới cuối cùng cao tột và đầy vinh diệu, thì thực thể tâm linh đã hoàn thiện bèn đạt tới một trạng thái mà ngài nhớ lại trọn bộ các kiếp sống đã trải qua vào bất cứ lúc nào trong quá khứ (túc mạn thông). Ngài có thể quay ngược lại trò lạ kỳ của các kiếp sống nơi ngoại giới và dường như sống qua được chi tiết nhỏ nhặt nhất của kiếp sống này trong vô số kiếp sống mà ngài đã trải qua, ngài có thể nhận biết được chúng cũng như mọi thứ có dính dáng tới chúng vì ngài đã đạt được sự toàn tri liên quan tới dãy hành tinh này. Các sự phát triển tối hậu của chơn ngã là phần thưởng mà Thiên nhiên không chỉ dành cho những đấng nào có thể nói là đã đạt được mục đích trước thời hạn qua những sự phấn đấu tương đối ngắn ngủi nhưng vô vọng và khủng khiếp để đưa tới quả vị cao đồ. Thiên nhiên cũng còn dành phần thưởng đó cho tất cả những người nào mà trọn cả kiếp sống của mình nổi bật lên tính chất điều thiện đã thắng được điều ác, họ đã vượt qua được cái vực thẳm tối tăm của sự chết chóc vào giữa cuộc tuần hoàn thứ năm và họ đã tiến lên qua cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy.
Trong khoa học bí truyền thì trạng thái phúc lạc tối cao này được gọi là ngưỡng cửa Niết Bàn (tức hữu dư y Niết Bàn).
Liệu ta có nên bỏ công sức ra để suy đoán thêm nữa về những gì tiếp sau đó hay chăng? Có thể nói rằng không có một trạng thái tâm thức cá biệt nào (ngay cả một giai đoạn xúc cảm đã đồng nhất phần lớn với tâm thức tập thể khi sống trên cõi trần) sánh được với cái độ cao tâm linh của tâm thức tuyệt đối trong đó mọi ý thức cá thể đã bị hòa lẫn vào tổng thể. Chúng ta có thể dùng những cụm từ mà trí năng hiểu được, nhưng các cụm từ này không có ý nghĩa sâu sắc nào đối với một cái trí bình thường khi nó còn bị khống chế bởi óc phàm và lệ thuộc vào óc phàm đó.
Ta chỉ có thể nói rằng Niết Bàn là một trạng thái yên nghỉ hữu thức cao tột vì đã đạt được sự toàn tri. Sau khi đã nói như vậy thì thật là tức cười khi ta quay lại xem xét sự cãi vã của các người nghiên cứu Phật giáo công truyền muốn biết xem liệu Niết Bàn có nghĩa là sự hủy diệt hay chăng. Những điều ngụ ngôn của trần tục không thể biểu thị được cái xúc cảm mà những vị tốt nghiệp khoa bí truyền nhận định về vần đề này. Liệu cái hình phạt cuối cùng của thiên luật có nghĩa là cái vinh dự cao nhất về mặt chức tước hay chăng? Liệu cái muỗng bằng gỗ có phải là biểu hiệu của sự lỗi lạc trứ danh nhất về mặt học thuật hay chăng? Những thắc mắc như thế chỉ là những biểu tượng mơ hồ cho sự quá quắc của vấn đề liệu Phật giáo có coi Niết Bàn là tương đương với sự hủy diệt hay chăng. Và theo một cách thức mà chúng ta không thể quan niệm nỗi thì trạng thái Bát Niết Bàn (Para Nirvana) nghe đâu còn vô cùng cao siêu hơn trạng thái Niết Bàn nữa. Tôi không tự cho là mình quan trọng quá ý nghĩa của phát biểu đó, nhưng nó cũng được dùng để chứng tỏ rằng đề tài này thuộc về lãnh vực siêu việt của tư tưởng biết là chừng nào.
Có nhiều điều rối trí liên quan tới cõi Niết Bàn là do người ta đề cập tới Đức Phật. Nghe nói ngài đã nhập Niết Bàn trong khi còn tại thế, nhưng ngài đã từ bỏ Niết Bàn để có thêm những kiếp lâm phàm mới vì ích lợi của nhân loại. Hai phát biểu này hoàn toàn dung hòa được với nhau. Trên cương vị là một cao đồ thượng đẳng, Đức Phật dĩ nhiên là đạt tới trình độ thành tựu lớn lao của quả vị cao đồ trên trần thế tức là chơn ngã và chơn thần của ngài đã chuyển vào trạng thái Niết Bàn khôn tả. Ta không được giải thích rằng đối với một bậc cao đồ như thế ngài có thể dễ dàng chuyển vào trạng thái này. Bản chất của điều bí nhiệm lớn lao này thì tôi chỉ mới có một số điều gợi ý tản mác, nhưng nếu tập hợp tất cả những điều này lại, tôi tin rằng mình có lý khi bảo rằng việc thành tựu đó chỉ có một vài vị điểm đạo đồ cao cấp mới đủ tư cách đạt được; nó đòi hỏi phải làm cho thể xác ngưng sinh hoạt trong một thời gian rất lâu có thể sánh với sự xuất thần tê bại mà khoa học thông thường có biết tới. Việc bảo vệ thể xác khỏi bị hủy hoại theo tiến trình tự nhiên trong thời kỳ này cần phải vận dụng những hiểu biết phong phú về khoa huyền bí; thế nhưng tiến trình này vẫn có hai nguy cơ đối với những người còn tiếp tục duy trì sự sống của thể xác trên cõi trần. Một trong những nguy cơ đó là chẳng biết một khi đã nhập Niết Bàn thì chơn ngã có sẵn lòng trở lại hay chăng. Chắc chắn việc trở lại là một nỗ lực và hi sinh khủng khiếp, và hành giả tâm linh chỉ bị thôi thúc gắn bó với sự trở lại do ý niệm về bổn phận xét về mặt trừu tượng nhất. Nguy cơ thứ hai là việc ý thức bổn phận có thể chiếm ưu thế so với sự cám dỗ phải ở lại; nên nhớ rằng sự cám dỗ này không hề bị yếu đi do người ta sợ bị trừng phạt mà chỉ vì luôn luôn có nghi vấn liệu hành giả có thể trở lại hay chăng. Mặc dù có nhiều nguy cơ như vậy, song ngoài Đức Phật ra cũng có nhiều bậc cao đồ đã thực hiện sự chuyển tiếp lớn lao đó; vào thời ấy nghe đâu khi trở lại cái ngục tù xác thịt đê tiện này – mặc dù phải giả thiết rằng cái ngục tù đó là cao quí xiết bao so với hầu hết những chỗ cư trú khác – thì các ngài đâm ra bị tê liệt vì xuống tinh thần mất cả tuần lễ. Việc bắt đầu trở lại cái vòng luân hồi cực nhọc trên trần thế và phải khom mình tuân theo luật lệ thế gian sau khi đã đạt được Niết Bàn quả thật là một sự sụp đổ dễ sợ.
Lại nữa, sự từ bỏ của Đức Phật còn vĩ đại hơn theo một cách thức mà ta không thể giải thích được, vì ngài không chỉ từ Niết Bàn trở về để hoàn thành nhiệm vụ, ngài đã hoàn thành nhiệm vụ rồi khi sống trên trần thế trong kiếp là Đức Phật Thích Ca. Nhưng khi đã hoàn thành mọi nhiệm vụ đề ra thì ngài có quyền nhập Niết Bàn trong vô lượng kiếp mà để mở rộng quan niệm của mình về sứ mệnh trước kia, ngài lại từ bỏ cái phần thưởng đó hoặc đúng hơn là trì hoãn nó vô hạn định để đảm nhiệm một loạt các kiếp luân hồi quá bổn phận của mình vì ích lợi của nhân loại nói chung. Người ta có thể thắc mắc sự từ bỏ của Đức Phật có lợi được gì cho nhân loại? Nhưng thật ra vấn đề này được nêu ra chỉ vì hầu hết chúng ta đều có thói quen thâm căn cố đế là đánh giá lợi ích theo tiêu chuẩn của cõi trần, thậm chí tiêu chuẩn này lại rất thiển cận vì chỉ dính dáng tới những sự việc của con người. Nếu người nào đã theo sát tôi qua chương trước kia bàn về sự Tiến hóa của Loài người thì người đó không thể không nhận thức được rằng Đức Phật muốn ban lại lợi ích gì cho nhân loại. Đối với ngài thì vấn đề lớn của loài người chính là việc giúp đỡ cho càng nhiều người càng tốt có thể vượt qua được thời kỳ đại khủng hoảng của cuộc tuần hoàn thứ năm.
Cho tới lúc đó thì mọi chuyện chỉ là chuẩn bị cho sự đấu tranh tối thượng, đó là sự thẩm định của một bậc cao đồ, cho nên một Đức Phật lại càng như thế. Khi đặt lên cán cân để tính toán, thì lợi ích vật chất của thế hệ đang sống cũng chỉ nhỏ như hạt bụi; hiện nay điều duy nhất quan trọng là trau dồi khuynh hướng nơi loài người khiến cho nhiều Chơn ngã có thể bước trên con đường trả Nghiệp để lợi ích cho sự tăng trưởng của tính linh trong những kiếp tương lai. Các bậc đạo sư bí truyền (nghĩa là các vị cao đồ cộng tác với Đức Phật) tin chắc rằng chính nhờ cái quá trình trau dồi tính linh như thế mà cái sự đau khổ phù du của loài người mới giảm đi được rất nhiều. Ngay cả hạnh phúc của loài người chỉ trong một thế hệ thôi cũng không phải là vấn đề mà khoa học bí truyền không thể được coi là không tưởng một cách tuyệt vọng đến mức nó chẳng bao giờ quan tâm tới bất kỳ người nào trong chúng ta đang sống hiện nay. Nhưng có những vụ mùa bội thu và những vụ mùa thất thu về lúa mì và lúa mạch; cũng vậy sự tăng trưởng theo mong muốn của tính linh nơi con người cũng ba chìm bảy nổi. Dù sao đi nữa ở Âu châu, do kinh nghiệm của những giống dân lớn trước kia với những thời kỳ phát triển tương ứng với thời kỳ phát triển chúng ta hiện nay, sự hối hả hiện nay sử dụng trí phàm để tiến bước về mặt vật chất trên cõi trần không nhất thiết sẽ mang lại một vụ mùa bội thu cho sự tiến triển thuộc loại khác. Trong lúc này, chúng ta có cơ may nhiều nhất để mang lại lợi ích cho các xứ sở đang đắm đuối hối hả với sự tiến bộ vật chất nêu trên, đó là khả năng trí tuệ có thể nhận thấy tầm quan trọng của tính linh ngay cả trước khi nó trực nhận được, nếu người ta quan tâm tới tiếng nói của cái tòa án lương tâm sắc sảo mặc dù không được cảm tình này. Bất cứ một thành công nào theo chiều hướng mà những lời giải thích nêu trên có thể dẫn dụ, ắt biện minh được cho quan điểm của các đấng (mặc dù chỉ là thiểu số) giữ gìn bí mật và canh chừng nhân loại để cho họ thấy được điều gì xứng đáng phải làm.
Như vậy, Niết Bàn chính là chủ điểm của Phật giáo bí truyền, mặc dù cho đến nay các học giả công truyền đã nghiên cứu về nó một cách lệch lạc. Cứu cánh của toàn thể sự tiến bộ ghê hồn nơi loài người chính là việc trau dồi cho linh hồn con người cuối cùng sẽ thích ứng được với cái tình trạng cho đến nay là không thể nghĩ bàn đó. Cái chiến thắng lớn lao của các vị Chơn linh Hành tinh hiện nay (bản thân các ngài đã đạt được tình trạng đó) sẽ là thu hút càng nhiều càng tốt các chơn ngã đạt tới đó. Cho đến nay chúng ta còn cách xa cái thời kỳ nguy hiểm khi bản thân chúng ta dứt khoát không đủ tư cách để đạt được tiến bộ đó, lại càng hơn thế nữa khi Nghiệp báo sẽ dẫn dắt chúng ta qua những kiếp sống liên tiếp theo chiều hướng này cùng với một phần thưởng để cho việc theo đuổi của chúng ta một cách sáng suốt những lợi ích cao siêu nhất trong một tương lai rất xa xăm lại trùng với việc theo đuổi ích lợi ngay trước mắt của chúng ta qua thời kỳ Devachan sắp tới, cũng như kiếp tái sinh sắp tới.
Nếu người ta lập luận rằng việc trau dồi tính linh là mục đích lớn nhất mà ta phải theo đuổi thì đâu có gì quan trọng nếu người ta theo đuổi tính linh qua đường lối tôn giáo này hoặc đường lối tôn giáo khác. Như ta đã giải thích trong một chương trước kia, đây là một lỗi lầm mà Đức Phật (trên cương vị là Sankaracharya) đã đặc biệt tự đề ra cho mình phải chiến đấu chống lại, nghĩa là chống lại việc Ấn độ giáo xưa kia tin rằng có thể đạt được giải thoát (moksha) bằng cách sùng tín bhakti chứ không cần tới minh triết gnyanam, nghĩa là có thể đạt được sự giải thoát bằng việc thực hành lòng sùng tín mà không cần biết chân lý vĩnh hằng. Cái loại giải thoát mà giờ đây chúng ta đang nói đến không phải là việc tránh né bị trừng phạt bằng cách quị lụy một đấng quân vương chân chính trên trời; đó là một loại thành tựu tích cực chứ không tiêu cực, là việc thăng lên tới cái vùng cao cấp về mặt tâm linh đến nỗi mà các ứng viên nhắm vào đó đều mưu cầu điều mà chúng ta thường gọi là sự toàn tri. Theo cách thức hoạt động thông thường của Thiên nhiên thì chắc chắn là không có một hoàn cảnh nào sẽ xảy ra khi một người chỉ vì đã sống một cuộc đời tốt bụng mà bất thần trở nên minh triết. Lòng tốt và sự minh triết tối cao của con người thuộc cuộc tuần hoàn thứ sáu (họ đã đạt được mức đó bằng cách đồng hóa từng chút một các thuộc tính của đấng thiêng liêng) chỉ có thể được tăng trưởng từng chút một, và chỉ lòng tốt không thôi (ta thường thấy như vậy) kết hợp với những đức tin tôn giáo thô thiển nhất không thể đưa một người tới mức nhiều hơn thời kỳ Devachan đầy những sự ngất ngây của lòng sùng tín thiếu thông minh, và nếu tình trạng đó cứ tiếp tục tiếp diễn qua nhiều kiếp sống thì khi xảy ra cuộc khủng hoảng lớn (vào cuộc tuần hoàn thứ năm) cá tính của chơn ngã sẽ bị tiêu diệt một cách không đau đớn.
Chỉ có bằng cách kiên trì theo đuổi và khao khát sự thật tâm linh chứ không phải là mặc nhiên chấp nhận (cho dù đầy hảo ý) những giáo điều thời thượng của các giáo hội gần gũi nhất, thì con người mới đưa linh hồn mình nhập vào một trạng thái tâm cảnh để chuẩn bị tiếp nhận và thấm nhuần tri thức chân thực do sự toàn tri tiềm tàng của nguyên khí thứ sáu của chính mình và sớm muộn gì y cũng sẽ luân hồi theo sự thôi thúc của chiều hướng đó. Xét về số phận của cá nhân thì không một điều gì có thể gây nguy hại cho sự tiến bộ của con người nhiều hơn cái quan niệm rất thịnh hành theo đó nếu ta tin theo tôn giáo với một tinh thần sùng đạo thì đạo nào cũng tốt như đạo nấy. Nếu những giáo lý như thế có vẻ là phi lý đối với bạn thì đại đa số những người tốt bụng lại chẳng bao giờ nghĩ rằng chúng là phi lý mà còn rêu rao kể lể chúng với một tâm trạng đầy sùng đạo không thể chê trách vào đâu được. Tôn giáo này tuyệt nhiên không thể tốt như tôn giáo khác, cho dù mọi tôn giáo đều có thể tạo ra những kiếp sống không thể chê trách vào đâu được. Nhưng tôi không muốn chỉ trích những tín ngưỡng chuyên biệt, cho nên chỉ dành quyển sách này để nêu ra một phát biểu đơn giản vô hại về giáo lý nội môn chân thực của tôn giáo vĩ đại duy nhất trên thế gian; xét theo khía cạnh bên ngoài thì nó đã được trình bày là một sử liệu vô tội không gây đổ máu, thế nhưng nó vẫn thực sự tạo ra những kiếp sống không chê vào đâu được đối với những người tận hiến cho nó. Hơn nữa, đâu phải chỉ nô lệ chấp nhận giáo lý thì người ta mới trau dồi được tính linh chân thực. Chính cái bẩm tính muốn mưu cầu sự thật, trắc nghiệm và khảo sát mọi điều mà người ta đưa ra muốn cho mình tin tưởng, chính điều đó mới mang lại kết quả to lớn. Ở phương Đông, chắc chắn là người ta phải nhận biết được một quyết tâm ở mức độ cao siêu nhất mới dẫn tới giai đoạn làm đệ tử để theo đuổi sự thật và tri thức bằng cách phát triển những quyền năng nội tại. Ở phương Tây, theo như thế giới hiện nay thì lãnh vực trí năng tiếc thay vẫn có thể được theo đuổi và săn đón nhờ vào nhiều ngôn từ cãi cọ và bàn luận. Nhưng dù sao đi nữa, nếu người ta cứ săn đuổi cho dù không nắm bắt được sự thật cuối cùng, thì kẻ săn đuổi đó cũng tạo ra những bản năng có thể được lưu truyền đến kiếp sau và dẫn đến kết quả mai này.