17/6/14

Phật giáo bí truyền – Thông Thiên Học (Kỳ 2): Cấu tạo của mỗi con người

Muốn nghiên cứu về nguồn gốc của vũ trụ theo như khoa huyền bí học hiểu, thì trước hết ta phải thử ra sức giải thích những phương tiện khiến cho ta biết được nguồn gốc vũ trụ đó. Những phương pháp khảo cứu bí truyền vốn bắt nguồn từ những sự kiện tự nhiên mà khoa học công truyền hoàn toàn không quen thuộc. Những sự kiện tự nhiên này có liên quan tới sự phát triển sớm các năng khiếu nơi vị cao đồ huyền bí học mà nhân loại nói chung chưa phát triển được. Đến lượt những năng khiếu này lại khiến cho những người có được chúng có thể thám hiểm những điều bí mật của Thiên nhiên, kiểm chứng lại được các giáo lý bí truyền đã nêu ra những nét phác họa chung. Sinh viên thực hành về huyền bí học trước hết có thể phát triển những năng khiếu này, nhiên hậu mới áp dụng nó để quan sát Thiên nhiên; nhưng việc trình bày cái thuyết về Thiên nhiên này cho các độc giả ở phương Tây chỉ cốt làm cho y hiểu được bằng cái trí trước khi xét đến những giác quan trong nội giới mà việc nghiên cứu huyền bí học dùng tới. Mặt khác, người ta chỉ có thể nghiên cứu về nguồn gốc vũ trụ theo như khoa học huyền bí hiểu, nếu người ta sắp xếp nó một cách khoa học thì những độc giả Âu Tây sẽ khó mà hiểu được. Để khởi sự ngay từ đầu, chúng ta phải nỗ lực tìm hiểu tình trạng của vũ trụ trước khi bắt đầu tiến hóa. Các sinh viên huyền bí học tuyệt nhiên không né tránh đề tài này và chỉ mãi về sau trong quá trình phác họa như vậy thì người ta mới đưa ra vài lời bóng gió nói về quan điểm của huyền bí học liên quan tới những quá trình sơ khai mà vật chất vũ trụ phải trải qua đó trên bước đường tiến hóa. Nhưng muốn phát biểu có thứ tự về những diễn trình sơ khai nhất trong Thiên nhiên thì người ta phải đề cập tới cấu tạo tâm linh của con người, cấu tạo này không thể hiểu được nếu không có những lời giải thích dẫn nhập.
Khoa học bí truyền thừa nhận có bảy nguyên khí riêng biệt cấu tạo thành con người. Sự phân biệt này khác xa bất kỳ sự phân loại nào vốn quen thuộc với các độc giả Âu Tây, cho nên là tự nhiên rằng người ta ắt hỏi tôi dựa vào cơ sở nào mà huyền bí học dám đi tới một kết quả quá đáng như vậy. Nhưng do những đặc điểm cố hữu về đề tài này mà chỉ mãi về sau chúng ta mới hiểu được, tôi xin những người có đầu óc Tây phương hãy lắng nghe cái sự hiểu biết mà tôi mang về nhà này (dù sao đi nữa cũng là lần đầu tiên) theo kiểu Đông phương. Hệ thống truyền đạt tri thức của Đông phương và Âu Tây là hai phương pháp chẳng giống gì nhau. Người Tây phương kích thích cái bản năng bàn cãi của người theo học ở từng bước một. Người ta khuyến khích y cứ tranh cãi và đừng có tin chắc vào điều gì. Người ta cấm y không được đưa ra một phát biểu khoa học nào dựa vào uy quyền. Song song với việc thu lượm kiến thức, y còn phải học để biết cách thu lượm kiến thức này, và người ta khiến cho y cảm thấy rằng chẳng có sự kiện nào đáng biết trừ phi cùng với điều đó y biết cách chứng minh rằng đó là một sự thật. Người Đông phương dạy học trò theo một kế hoạch khác hẳn. Nó cũng đâu có phải coi thường việc cần phải chứng tỏ giáo huấn của mình như người phương Tây, nhưng nó cung cấp sự chứng mình theo một kiểu khác. Nó giúp cho người đi học tự mình khảo sát lấy Thiên nhiên và kiểm chứng được giáo huấn ở những vùng mà triết học phương Tây chỉ có thể thâm nhập vào được bằng cách suy đoán và lập luận. Nó chẳng bao giờ mất công lập luận về bất cứ điều gì. Nó bảo rằng: “Sự thật là như thế đấy. Đây là chìa khóa của tri thức, bây giờ bạn hãy tự thân mình đi tìm kiếm nó.” Như vậy thì té ra là bản thân giáo huấn đó chẳng qua chỉ là giáo huấn dựa vào uy quyền. Giáo huấn và sự chứng minh không song song với nhau mà nối tiếp nhau một cách có trật tự. Hậu quả thêm nữa của phương pháp này là việc triết học Đông phương dùng cái phương pháp mà chúng ta ở phương Tây đã vứt bỏ chỉ vì nó không tương thích với chính đường lối phát triển trí năng của chúng ta: Đông phương dùng hệ thống lý luận đi từ cái chung đến cái riêng. Cái kế hoạch này chắc chắn là không đáp ứng được những chủ đích mà khoa học Âu Tây thường nhắm tới, nhưng tôi nghĩ rằng bất kỳ người nào tiến sâu vào trong cuộc khảo cứu hiện nay đều cảm thấy rằng hệ thống lý luận đi từ chi tiết của kiến thức tiến tới những sự suy diễn về vấn đề chung không thể áp dụng được cho công trình mà ta đang xét đến. Trong địa hạt tri thức này người ta không thể nào hiểu được chi tiết chừng nào mà chưa hiểu chung chung được trọn cả hệ thống sự việc. Ngay cả việc truyền đạt sự hiểu biết chung chung này chỉ bằng ngôn ngữ thôi thì nói chung tuyệt nhiên không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Việc dừng lại một lúc nào đó trong khi trình bày theo đúng thứ tự để thu lượm những bằng chứng riêng biệt hầu như là không thể được. Một phương pháp như thế ắt làm cho người đọc phải sốt ruột, khiến cho y không thể rút ra được (việc này có thể được trong một bộ khảo luận cô đọng hơn) cái quan niệm dứt khoát về điều mà giáo lý bí truyền có ngụ ý muốn giảng dạy, đây chính là việc mà tôi phải khơi dậy.
Tiện đây xin nói rằng sự suy gẫm này có thể gợi ý cho ta một quan niệm mới có liên quan mật thiết tới đề tài hiện nay của chúng ta đó là hệ thống lý luận của Platon và hệ thống của Aristote. Hệ thống của Platon (được mô tả đại khái là lý luận đi từ cái chung đến cái riêng) bị thói quen ngày nay lên án vì người ta đang ưu đãi cái hệ thống ngược hẳn lại xuất hiện sau này. Nhưng Platon vốn bị ràng bụôc trong nỗ lực muốn bảo vệ hệ thống của mình. Có đủ lý do để tin rằng việc ông ta quen thuộc với khoa học bí truyền đã thôi thúc ông dùng phương pháp này và những hạn chế theo thông lệ mà ông phải tuân thủ với vai trò là một huyền bí gia được điểm đạo, cấm ông không được nói nhiều đến mức đủ để chứng minh được nó. Không ai nghiên cứu khoa học huyền bí có trong quyển sách này rồi quay lại với Platon hoặc ngay cả với bất kỳ quyển sách tóm lược thông thái nào về hệ thống tư tưởng của Platon, mà lại không thấy có những sự tương ứng nảy sinh ra ở mỗi bước ngoặt.
Các nguyên khí cao trong loạt nguyên khí cấu thành Con Người chưa phát triển trọn vẹn nơi loài người mà cho đến nay chúng ta quen thuộc, nhưng một người đã hoàn chỉnh hoặc hoàn hảo có thể được phân giải ra thành những yếu tố sau đây. Để dễ dàng cho việc áp dụng những lời giải thích này vào các tác phẩm công truyền thông thường của Phật giáo, người ta có trình bày tên gọi bằng tiếng Bắc phạn của những nguyên khí này cũng như những thuật ngữ thích hợp trong tiếng Anh [[1]].
  1. Thể Xác: Rupa
  2. Sinh Lực: Prana hoặc Jiva
  3. Thể Phách: Linga Sharira
  4. Hồn Thú: Kama Rupa
  5. Hồn Người: Manas
  6. Hồn Thiêng: Buddhi
  7. Tinh Thần: Atma
Ngay cả những quan niệm siêu việt như một số quan niệm được bao hàm trong bản phân tích này đã được đưa ra dưới dạng bảng biểu thì dường như nó sẽ gặp phải một vài sự suy thoái mà chúng ta cần phải cảnh giác trong khi cố gắng hiểu rõ được nó ngụ ý muốn nói gì. Ngay cả vị giáo sư tài khéo nhất về khoa học huyền bí chắc chắn cũng không thể trình bày được những nguyên khí này riêng biệt với nhau cũng chẳng khác gì những nguyên tố trên cõi trần của một hợp chất có thể được tách ra bằng phép phân tích hóa học và bảo tồn độc lập với nhau. Các nguyên tố của một thể xác vốn ở trên cùng một cõi vật chất, nhưng các nguyên khí của một con người thì lại ở trên các cõi khác hẳn nhau. Chất khí tinh vi nhất mà thể xác trong một chừng mực nào đó có thể bao gồm nó về mặt hóa học, thì dù sao xét về một phương diện cũng còn gần gũi nhất với mức độ vật chất thấp nhất. Khi kết hợp với vật chất thô, nguyên khí thứ nhì biến nó từ cái mà ta thường gọi là vô cơ (hoặc có lẽ nên gọi là trơ thì đúng hơn) thành ra vật chất sống động; thì tức khắc nguyên khí thứ nhì là một điều gì khác hẳn với cái kiểu mẫu tinh vi nhất của vật chất ở trạng thái thấp hơn nó. Vậy nguyên khí thứ nhì có thể nào là điều mà ta thực sự gọi là vật chất hay chăng? Như vậy ngay từ khi mới bắt đầu khảo cứu, vấn đề này đã khiến cho chúng ta phải sa vào ngay giữa cái cuộc tranh cãi tế nhị trong siêu hình học theo đó liệu lực và vật chất là khác nhau hay giống nhau. Trong lúc này ta chỉ cần nói rằng khoa học huyền bí coi chúng là giống nhau và nó không coi bất kỳ nguyên khí nào trong Thiên nhiên là hoàn toàn phi vật chất. Như vậy, mặc dù không có một quan niệm nào về vũ trụ, về số phận con người, về Thiên nhiên nói chung mà lại có tính chất tâm linh nhiều hơn các quan niệm của khoa huyền bí học, khoa này hoàn toàn không bị cái sai lầm về luận lý khi gán các kết quả của vật chất cho những nguyên nhân phi vật chất. Như thế, giáo lý bí truyền quả thật là cái mắt xích còn thiếu giữa thuyết duy vật và tính linh.
Manh mối cho bí nhiệm phức tạp này dĩ nhiên vốn ở nơi sự kiện mà các chuyên gia về huyền bí học đều nhận biết ngay được, đó là: vật chất tồn tại ở những trạng thái khác ngoài những trạng thái mà năm giác quan nhận biết được.
Vậy là nguyên khí thứ nhì của Con Người (Sinh Lực) gồm có vật chất ở khía cạnh lực và vì ái lực của nó đối với trạng thái vật chất thô trược lớn đến nỗi nó không thể tách rời khỏi bất kỳ một hạt hoặc khối lượng vật chất cho sẵn nào mà không tức khắc dịch chuyển sang một hạt hoặc khối vật chất khác. Khi xác của một người chết vì bị bỏ bởi những nguyên khí cao đã làm cho xác này thành một thực tại sinh động, thì nguyên khí thứ nhì tức nguyên sinh khí bản thân nó không còn là một đơn vị nữa, tuy nhiên nó vẫn còn gắn bó cố hữu nơi các hạt của cái xác chết đang phân hủy để rồi gắn liền với những cơ thể khác mà chính tiến trình phân hủy này tạo ra. Khi ta chôn xác chết ở dưới đất thì Jiva tức nguyên sinh khí của nó sẽ gắn bó với cây cỏ mọc bên trên hoặc hình dạng của loài thú hạ đẳng vốn tiến hóa ra từ chất liệu của cây cỏ đó. Khi ta thiêu cái xác đó thì nguyên sinh khí bất diệt ngay tức khắc sẽ trở về với thể xác của chính hành tinh mà nó đã vay mượn từ đó để rồi nhập vào một sự tổ hợp mới theo như ái lực của nó xác định.
Nguyên khí thứ ba, thể Phách tức Linga Sharira, là một bản sao tinh vi của thể xác, bảng thiết kế nguyên thủy của nó. Nó hướng dẫn nguyên sinh khí tác động vào các hạt trong thể xác, khiến cho thể xác xây dựng được hình hài bao gồm những hạt này. Nhờ được làm cho linh hoạt bởi những nguyên khí cao, cho nên tính đơn nhất của nó chỉ được bảo tồn qua sự hợp nhất của trọn cả nhóm. Khi con người chết, trong một thời gian ngắn nó thoát ra khỏi thể xác và trong một số tình huống bất thường, thậm chí nó có thể trở nên hữu hình đối với thị giác trên ngoại giới của những người vẫn còn sống. Trong tình huống đó, dĩ nhiên người ta coi nó là bóng ma của người quá cố. Đôi khi ma hiện hình có thể xảy ra theo những cách thức khác nhau, nhưng nguyên khí thứ ba (khi điều này xảy ra thành một hiện tượng hữu hình) chỉ là một khối tập hợp các phân tử ở một trạng thái đặc thù, không có bất kỳ loại sự sống hoặc tâm thức nào. Nó không còn là một Sinh linh cũng giống như bất kỳ đám mây nào trên bầu trời ngẫu nhiên tụ tập lại thành hình dáng giống như một con thú nào đó. Nói chung thì thể phách chẳng bao giờ rời xa thể xác ngoại trừ lúc chết, ngay cả trong trường hợp này thì nó cũng đi quá xa khỏi thể xác. Khi người ta thấy nó (điều này hiếm khi xảy ra) thì người ta chỉ có thể thấy nó ở kế cận cái xác chết vẫn còn nằm im. Trong một vài trường hợp rất đặc biết của thuật đồng cốt trong phong trào Thần linh học, thì trong một thời gian ngắn nó có thể được xuất ra khỏi thể xác và trở nên hữu hình kế cận thể xác, nhưng trong trường hợp đó, vào lúc này người đồng tử phải chịu rất nhiều nguy hiểm cho tính mệnh của mình. Nếu ta vô tình làm xáo trộn cái tình huống khiến cho thể phách xuất ra được, thì việc nó quay trở lại thể xác có thể bị cản trở. Lúc bấy giờ nguyên khí thứ hai chẳng bao lâu nữa sẽ không còn làm linh hoạt được cái xác với vai trò là một tổng thể và sự chết sẽ xảy ra.
Trong vòng một hai năm vừa qua, khi thế giới biết được những điều nói bóng gió và những mảnh vụn mà khoa học huyền bí công bố, thì thuật ngữ “Thể Phách” đã được áp dụng cho một loại nào đó giống như hình người mà các nguyên khí cao có thể ở trọn vẹn trong đó, nó có thể di chuyển ra xa khỏi thể xác đến bất cứ nơi nào do một vị cao đồ còn sống phóng chiếu ra một cách hữu thức với một ý định chính xác hoặc do một người nào đó vào lúc chết vô tình và ngẫu nhiên áp dụng một vài lực thuộc trí tuệ đối với những nguyên khí đã bị nới lỏng của mình. Trong những mục đích thông thường thì chẳng có gì là bất tiện khi dùng thuật ngữ “Thể Phách” để chỉ sự hiện hình do phóng chiếu như thế; thật vậy, ta sẽ thấy ngay rằng bất kỳ một thuật ngữ chính xác hơn nào đó cũng tỏ ra là cồng kềnh và chúng ta phải tiếp tục sử dụng cụm từ này theo cả hai nghĩa. Ta không được lẫn lộn, nhưng nói cho chính xác thì thể phách, nguyên khí thứ ba, tức linga sharira không thể được phóng chiếu ra để dùng làm hiện thể của các nguyên khí cao hơn.
Ta ắt thấy rằng ba nguyên khí thấp hoàn toàn thuộc về Trái Đất, chúng ta có bản chất sẽ chết đi như một thực thể không thôi, mặc dù các phân tử của chúng vẫn còn bất diệt, và vào lúc chết con người không cần đến ba nguyên khí này nữa.
Nguyên khí thứ tư là nguyên khí đầu tiên thuộc về bản chất cao của con người. Danh xưng tiếng Bắc phạn, kama rupa thường được dịch là “Thể Dục Vọng”, dường như là một cách gọi khá vụng về và không chính xác. Một cách dịch gần gũi hơn xét về mặt ý nghĩa chứ không phải về mặt ngôn từ có lẽ là “Hiện thể của Ý chí”, nhưng tên gọi đã được chọn dùng ở trên kia tức là Hồn thú có thể còn gợi ý chính xác hơn nữa.
Trong tờ tạp chí Nhà Thông Thiên Học số ra tháng 10 năm 1881 khi người ta đưa ra những lời nói bóng gió đầu tiên về cấu tạo gồm bảy phần của con người, thì nguyên khí thứ năm được gọi là Sinh hồn để phân biệt với nguyên khí thứ sáu tức “Linh hồn.” Nhưng mặc dù thuật ngữ này đủ để đánh dấu được sự phân biệt cần thiết thì nó lại làm suy đồi nguyên khí thứ năm mà bản chất cốt yếu là nguyên khí của con người. Mặc dù nhân loại có bản chất giống như loài thú khi so sánh với tinh thần nhưng nó vẫn cao siêu hơn vài loại tạo vật đầy thú tính được định nghĩa chính xác đó về phương diện khác. Nhờ đưa vào một tên gọi mới dành cho nguyên khí thứ năm, chúng tôi có thể để cho từ “Sinh hồn” trở lại với đúng vị trí của nó. Tuy nhiên, sự sắp xếp này cũng không ăn nhằm gì đối với việc đánh giá cái đường lối mà nguyên khí thứ tư phải đi theo, nó chính là tụ điểm của ý chí hay dục vọng mà tên gọi bằng tiếng Bắc phạn có đề cập tới. Vả lại Kama rupa là hồn thú, là nguyên khí cao nhất mà loài tạo vật đầy thú tính phát triển được, nó có thể tiến hóa lên thành một điều gì còn cao siêu hơn nữa bằng cách kết hợp với nguyên khí thứ năm đang phát triển nơi con người. Nhưng hồn thú nơi con người tuyệt nhiên không phải là tụ điểm của mọi dục vọng đầy thú tính có thể nói cũng là một lực mạnh mẽ thúc đẩy cơ thể con người thăng lên hoặc giáng xuống, nó có thể ảnh hưởng tới nguyên khí thứ năm về mọi mục đích thực tế cũng như chịu ảnh hưởng của nguyên khí thứ năm khi nguyên khí này kiểm soát và cải thiện được nó.
Nguyên khí thứ năm, hồn người, tức Manas (trong tiếng Bắc phạn cũng có mô tả một trong những khía cạnh của nó) là tụ điểm của lý trí và trí nhớ. Một phần của nguyên khí này được nguyên khí thứ tư làm linh hoạt quả thực đã được một bậc cao đồ phóng chiếu ra tới tận những nơi xa xôi khi ngài xuất hiện trong cái mà người ta thường gọi là thể phách của ngài.
Bây giờ nguyên khí thứ năm tức hồn người trong đa số nhân loại thậm chí vẫn còn chưa phát triển trọn vẹn. Sự kiện theo đó các nguyên khí cao vẫn còn chưa phát triển hoàn toàn là một điều rất quan trọng. Chúng ta không thể quan niệm chính xác về vị trí hiện nay của con người trong Thiên nhiên nếu chúng ta phạm phải sai lầm khi coi y là một sinh linh đã hoàn hảo rồi. Và cái lỗi lầm này sẽ tỏ ra gây chết người đối với bất kỳ sự tiên liệu hợp lý nào liên quan tới tương lai đang chờ đón y – nó cũng tỏ ra chết người đối với bất kỳ sự thẩm định nào về sự hợp thời của tương lai mà giáo lý bí truyền đã giải thích cho chúng ta rằng điều này đang thực sự chờ đón con người.
Vì nguyên khí thứ năm vẫn còn chưa phát triển trọn vẹn, cho nên cũng khỏi cần nói thêm rằng nguyên khí thứ sáu vẫn còn ở trạng thái phôi thai. Ý tưởng này đã được biểu thị bằng nhiều cách khác nhau trong những lời tiên tri gần đây của giáo lý vĩ đại. Đôi khi người ta đã bảo rằng chúng ta không có bất kỳ nguyên khí thứ sáu nào, chúng ta chỉ có mầm mống của nguyên khí thứ sáu thôi. Người ta cũng bảo rằng nguyên khí thứ sáu không ở trong chúng ta, nó lượn lờ bên trên chúng ta, nó là một điều gì đó mà những hoài bão cao siêu nhất trong bản chất của chúng ta phải vươn lên tới nó. Nhưng người ta cũng dạy rằng: Mọi sự vật chứ không chỉ có con người không thôi (kể cả loài thú, loài cây cỏ và loài khoáng vật) đều có bảy nguyên khí, và nguyên khí cao nhất tức nguyên khí thứ bảy làm linh hoạt cái sinh mệnh tuyến liên tục vốn xuyên suốt mọi cuộc tiến hóa, hợp nhất thành ra một chuỗi liên tục xác định hầu như vô số kiếp lâm phàm của một sự sống nhất như vốn tạo thành một chuỗi hoàn chỉnh. Chúng ta phải thấm nhuần đủ thứ quan niệm này, kết hợp chúng lại với nhau, rút tỉa cốt tủy của nó thì mới học được giáo lý về nguyên khí thứ sáu. Theo trật tự những ý tưởng vừa mới được đề nghị khi ta áp dụng thuật ngữ hồn thú cho nguyên khí thứ tư và hồn người cho nguyên khí thứ năm, thì nguyên khí thứ sáu có thể gọi là hồn thiêng của con người và vì vậy nguyên khí thứ bảy chính là tinh thần.
Xét theo một khía cạnh khác của ý tưởng này, thì nguyên khí thứ sáu có thể được gọi là hiện thể của nguyên khí thứ bảy, còn nguyên khí thứ tư là hiện thể của nguyên khí thứ năm; nhưng theo một cách xem xét khác về đề tài này, thì người ta có dạy rằng hãy coi mỗi một trong các nguyên khí cao từ nguyên khí thứ tư trở lên chỉ là một hiện thể của điều mà triết học Phật giáo gọi là Sự Sống Nhất Như tức Tinh thần. Theo cách xem xét này về vấn đề, thì sự sống nhất như làm hoàn thiện bất cứ điều gì (các hiện thể khác nhau tức là các nguyên khí từ thứ tư trở lên) khi ngự trong hiện thể này. Nơi con vật, thì sự sống nhất như tập trung vào kama rupa. Nơi con người, nó còn bắt đầu thâm nhập vào nguyên khi thứ năm. Nơi con người đã toàn bích thì nó thâm nhập vào nguyên khí thứ sáu, và khi nó thâm nhập vào nguyên khí thứ bảy thì con người không còn thuộc giới nhân loại nữa và đạt được một tình trạng hiện tồn cao siêu.
Quan điểm nêu trên có một lập trường rất giá trị để khiến cho ta tránh được ý niệm coi bốn nguyên khí cao giống như một bó gồm bốn cái que gắn chặt vào nhau mà đúng ra thì mỗi nguyên khí đều có sự cá biệt của mình nếu không gắn bó với nhau. Cả hồn thú một mình thôi cũng như hồn thiêng một mình thôi đều tuyệt nhiên không có cá tính gì cả; nhưng mặt khác, nguyên khí thứ năm không thể tách rời khỏi các nguyên khí khác mà vẫn bảo tồn sự cá biệt của mình trong cả hai nguyên khí bị bỏ rơi vô ý thức. Người ta đã bảo rằng thậm chí các nguyên khí tinh vi cũng có cấu tạo theo vật chất gồm các phân tử vật chất mặc dù loại vật chất này thuộc loại cao hơn thứ mà năm giác quan của thể xác có thể nhận biết được. Như vậy chúng có thể tách rời khỏi nhau và ta có thể tưởng tượng rằng chính nguyên khí thứ sáu tách ra khỏi những nguyên khí kế cận thấp hơn nó. Nhưng trong tình trạng tách biệt này vào giai đoạn mà loài người còn đang phát triển, thì nó chỉ có thể luân hồi trong trường hợp khẩn cấp bằng cách tạo ra một nguyên khí thứ năm mới qua việc tiếp xúc với một cơ thể con người. Trong trường hợp đó, nguyên khí thứ năm cũ sẽ dựa dẫm vào và hiệp nhất với nguyên khí thứ tư để rồi bị suy đồi tỉ lệ theo nguyên khí thứ tư. Thế mà nguyên khí thứ năm này (vốn không thể độc lập được) chính là phàm ngã của con người, còn tinh hoa của nó khi kết hợp với nguyên khí thứ sáu chính là chơn ngã liên tục của nó luân hồi trải qua các kiếp liên tiếp.
Sau này ta sẽ bàn luận về những tình huống và những hấp lực gây ảnh hưởng khiến cho các nguyên khí phải chia tay với nhau và sẽ bàn đến tâm thức của con người trong tình huống đó. Trong khi chờ đợi, muốn hiểu rõ hơn toàn bộ lập trường này thì ta phải tiếp tục đeo đuổi việc khảo cứu theo những đường lối mà giờ đây ta đã đạt được bằng cách trước hết là quay sang những diễn trình tiến hóa giúp cho những nguyên khí của con người phát triển được.
CHÚ GIẢI
Người ta có thể đưa ra một số lời phản đối về phương pháp trình bày Giáo lý Bí truyền cho độc giả trong quyển sách này, cho rằng nó dựa trên cơ sở là thuyết duy vật. Tôi ngờ rằng chẳng biết những ý tưởng được đề cập tới ở đây có thể được tâm trí lĩnh hội bằng bất kỳ cách nào khác tốt hơn hay chăng, nhưng một khi người ta đã lĩnh hội được những ý tưởng này thì việc dịch chúng sang những thuật ngữ của thuyết duy tâm cũng dễ thôi. Các nguyên khí cao sẽ được trình bày một cách tốt đẹp hơn coi như là nhiều trạng thái khác nhau của Bản ngã khi những thuộc tính của trạng thái đã được xem xét một cách riêng biệt coi như là những nguyên khí đang trải qua sự tiến hóa. Nhưng tốt hơn là ta nên bàn một lúc về quan điểm đối với cấu tạo con người theo đó tâm thức của một thực thể lần lượt trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau được biểu diễn bởi những nguyên khí khác nhau.
Trong cuộc tiến hóa cao nhất mà chúng ta cần quan tâm tới hiện nay (cuộc tiến hóa của Chơn sư hoàn thiện) đôi khi trong giáo lý huyền bí học có quả quyết rằng tâm thức của Chơn ngã đã đạt được quyền năng hoàn toàn ngự nơi nguyên khí thứ sáu. Nhưng đây chỉ là một quan điểm thô thiển về đề tài này và thật là sai lầm khi giả sử rằng vì thế mà Chơn sư đã hoàn toàn rũ bỏ (giống như bỏ cái thể đã bị vứt đi) các nguyên khí thứ tư và thứ năm mà tâm thức của ngài có thể đã trụ vào đó trong giai đoạn tiến hóa trước kia. Thực thể trước kia là nguyên khí thứ tư hoặc thứ năm, giờ đây có những thuộc tính khác đi hoàn toàn không còn một số khuynh hướng hoặc bẩm tính nữa, và vì vậy đó chính là nguyên khí thứ sáu. Ta có thể nói về sự thay đổi này một cách tổng quát là việc bản chất của Chơn sư được giải thoát khỏi sự nô lệ cho phàm ngã, giải thoát khỏi những ham muốn có cuộc sống trần thế bình thường, thậm chí giải thoát khỏi những hạn chế của tình cảm. Đó là vì Chơn ngã vốn hoàn toàn có ý thức nơi nguyên khí thứ sáu, đã chứng ngộ được sự đơn nhất của các Chơn ngã của toàn thể nhân loại xét chung, tình thương này siêu việt được tình thương Hão huyền của một con người riêng biệt đối với một tạo vật hạn hẹp trên các cõi tiến hóa thấp hơn. Ngài đã không hề mất các nguyên khí thứ tư và thứ năm, bản thân những nguyên khí này cũng đạt đến quả vị Chơn sư, cũng giống như hồn thú trong một giới thấp khi đạt tới giới nhân loại đã nở rộ thành ra nguyên khí thứ năm. Việc xem xét như vậy khiến chúng ta hiểu rõ hơn sự di chuyển của những người thường qua hàng chuỗi luân hồi dài dằng dặc trên bình diện con người. Một khi đã đạt được tâm thức trên cõi này thì tâm thức của người sơ khai dần dần bao trùm các thuộc tính của nguyên khí thứ năm. Nhưng Bản ngã thoạt tiên vẫn còn là một trung tâm hoạt động tư tưởng chủ yếu là theo những cơn bốc đồng và những ham muốn của giai đoạn tiến hóa thuộc nguyên khí thứ tư. Mới đầu thì thỉnh thoảng có những cơn chớp lóe của lý trí con người cao siêu soi sáng cho nó, nhưng dần dần con người trí thức hơn càng ngày càng làm chủ được công cụ này. Các xung lực của lý trí con người càng ngày càng khẳng định mạnh mẽ hơn. Cái trí được cấp cho sinh lực trở nên yếu tố chiếm ưu thế trong cuộc sống. Tâm thức chuyển dời sang nguyên khí thứ năm, tuy nhiên nó vẫn dao động giữa hai khuynh hướng chơn ngã và phàm ngã trong một thời gian dài – nghĩa là trải qua những giai đoạn tiến hóa dài bao gồm nhiều trăm kiếp người – và như vậy là dần dần tẩy trược và nâng cao được Bản ngã. Trong khi đó Bản ngã chỉ là một đơn vị thống nhất về một khía cạnh nào đó thôi, còn nguyên khí thứ sáu chẳng qua chỉ là một tiềm năng đến cuối cùng mới phát triển được. Còn xét về nguyên khí thứ bảy (tức là nguyên khí chân chính không ai biết được) thì đó là nguyên nhân tối cao kiểm soát vạn vật, nó giống nhau đối với một người cũng như đối với mọi người; giống nhau đối với nhân loại cũng như đối với giới động vật, giống nhau đối với cõi hồng trần cũng như cõi trung giới, cõi thượng giới cũng như cõi Niết Bàn. Chẳng ai đã có được một nguyên khí thứ bảy xét theo quan niệm cao siêu về đề tài này: theo một cách nào đó không thể dò ra được thì tất cả chúng ta đều được nguyên khí thứ bảy của vũ trụ phù hộ.
Làm thế nào mà quan điểm này về đề tài nêu trên lại dung hòa được với phát biểu ở chương trước kia rằng theo một ý nghĩa nào đó các nguyên khí là có thể tách ra được và thậm chí nguyên khí thứ sáu có thể được tưởng tượng là tách rời khỏi nguyên khí kế tiếp thấp hơn nó và khi muốn luân hồi, nó lại phát triển một nguyên khí thứ năm mới bằng cách tiếp xúc với một cơ thể con người? Theo tinh thần của hai quan điểm này thì không có sự tương thích nào. Nguyên khí thứ bảy là duy nhất và bất khả phân trong trọn cả Tự nhiên, nhưng có một sự thường tồn bí nhiệm xuyên suốt nó với một vài xung lực sự sống, vậy là cấu thành những sợi chỉ mà các kiếp lần lượt có thể được xỏ xuyên qua đó. Một xung lực sống như thế không mất đi ngay cả trong trường hợp khác thường, chẳng hạn như trong trường hợp một Bản ngã phóng chiếu ra trên xung lực đó rồi được phát triển dọc theo xung lực đó tới một mức nào đó, rồi lại rơi rụng hoàn toàn giống như trọn cả một tổng thể rời khỏi xung lực đó. Tôi không ở vào vị thế để tỏ ra giáo điều một cách chính xác về việc điều gì xảy ra trong trường hợp như thế, nhưng những kiếp lâm phàm tiếp theo của tinh thần dọc theo đường xung lực đó rõ ràng là nối tiếp xung lực nguyên thủy. Như vậy là khi khảo sát ý tưởng này một cách duy vật, ta có thể nói một cách chính xác đến mức tối đa mà ngôn ngữ cho phép tiếp cận được như sau: trong trường hợp đó, nguyên khí thứ sáu của người bị sa đọa tách rời khỏi nguyên khí thứ năm sơ thủy và luân hồi theo cách của riêng mình.
Nhưng ta không cần bận tâm nhiều về những tiến trình bất thường này. Trước hết ta phải giải quyết vấn đề sự tiến hóa bình thường, và trong khi xét bảy nguyên khí theo cách này thì theo ý kiến của tôi đó là phương pháp có ích nhất cho sự học hỏi đối với vấn đề này. Ta cũng nên nhớ rằng Bản ngã là một đơn vị tiến hóa qua nhiều cõi hoặc trạng thái tồn tại, phải chịu sự biến đổi, sự tăng trưởng và sự tẩy trược trong trọn cả quá trình tiến hóa, nó là một tâm thức an trụ vào những thuộc tính tiềm tàng của một thực thể con người.