Do việc đề tài mà chúng ta xét đến thật phức tạp khiến ta không thể đề cập tới mọi đặc tính của nó trong cùng một lúc, cho nên đến nay chúng ta phải xem xét bảy cuộc tuần hoàn khi con người phát triển, chúng tạo thành trọn cả đại cuộc của hành tinh liên quan tới chúng ta giống như một chuỗi liên tục mà số phận tự nhiên của loài người nói chung phải trải qua đó. Nhưng ta nên nhớ rằng, ta có nói nhân loại thuộc cuộc tuần hoàn thứ sáu phát triển cao tột đến nỗi mà những thuộc tính cao siêu và năng lực của các Chơn sư cao cấp nhất cũng là thuộc tính chung của tất cả mọi người; ngoài ra trong cuộc tuần hoàn thứ bảy loài người hầu như đã chuyển từ nhân tính sang thiên tính. Thế mà trong giai đoạn phát triển hiện nay, mọi con người vẫn còn đồng nhất hóa một cách liên tục với mọi phàm ngã vốn được xỏ xuyên qua cái sinh mệnh tuyến vốn bắt đầu từ khi diễn trình tiến hóa có mặt. Không biết cái đặc tính của mỗi phàm ngã đó sẽ có hậu quả về lâu về dài như thế nào; phải chăng vào cuộc tuần hoàn thứ bảy hai thực thể giống như Thượng Đế có thể kề vai sát cánh với nhau, người này phát triển theo một loạt những kiếp phục vụ hết mình và không lầm lỗi, còn người kia phát triển theo một loạt những kiếp độc ác và đê hèn? Điều chắc chắn không thể xảy ra được và chúng ta bắt buộc phải tự hỏi liệu những sự thích hợp của Thiên nhiên có được bảo tồn một cách thỏa đáng theo dòng tiến hóa đã định của loài người để lên tới những dạng tồn tại cao siêu vốn là tột đỉnh của tòa lâu đài đó?
Cũng như trẻ con không chịu trách nhiệm về những hành vi của mình, cũng vậy những giống dân sơ khai đều vô trách nhiệm đối với những hành vi của mình; nhưng rồi cũng đến lúc trưởng thành, khi việc phát triển trọn vẹn các năng khiếu khiến cho con người cá biệt biết chọn lựa giữa điều thiện và điều ác, chỉ trong nội một kiếp sống mà y nhất thời trải qua cũng đủ khiến cho Chơn ngã liên tục thực hiện sự chọn lựa cuối cùng của mình. Thời kỳ đó (là một thời kỳ bao la vì Thiên nhiên cũng chẳng vội vã gì để giăng cái bẫy thu hút các tạo vật của mình vào một vấn đề giống như thế) chỉ mới bắt đầu và phải trọn cả một cuộc tuần hoàn đi vòng qua bảy thế giới thì nó mới chấm dứt. Mãi cho tới giữa cuộc tuần hoàn thứ năm diễn ra trên trái đất này thì vấn đề lớn lao đó (tồn tại hay không tồn tại trong tương lai) vẫn còn chưa được giải quyết dứt khoát. Bây giờ chúng ta mới bắt đầu có được những năng lực khiến con người trở thành một thực thể có đầy đủ trách nhiệm, nhưng chúng ta còn chưa vận dụng những năng lực này khi Bản ngã của ta đã trưởng thành để quyết định những hậu quả ghê gớm mãi về sau.
Chính ở nửa đầu tiên của cuộc tuần hoàn thứ năm thì cuộc đấu tranh chủ yếu mới diễn ra. Mãi cho tới lúc đó diễn trình bình thường của cuộc sống có thể chuẩn bị một cách tốt hoặc không tốt cho cuộc đấu tranh này nhưng đúng ra ta không thể mô tả nó chính là cuộc đấu tranh. Và bây giờ ta phải khảo sát bản chất của cuộc đấu tranh này mà cho đến nay ta chỉ gọi là sự chọn lựa giữa điều thiện và điều ác. Điều đó chẳng phải là không chính xác mà chỉ là một định nghĩa chưa đầy đủ.
Cái sự mâu thuẫn cứ lập đi lập lại đầy tính chất đe dọa giữa trí năng và tính linh chính là hiện tượng mà giờ đây ta phải khảo sát. Dĩ nhiên ta phải mở rộng những quan niệm thông thường về hai từ ngữ này đến một mức độ nào đó thì mới liễu ngộ được quan niệm của huyền bí học. Người Âu Tây có thói quen suy nghĩ theo kiểu đinh ninh rằng tính linh có tính cách đê hèn, là một thuộc tính chứ không phải là một đặc tính của tâm trí, là một kiểu điều thiện chung chung mơ hồ bắt nguồn từ việc gắn bó với những nghi lễ về tôn giáo và những lòng khát khao mộ đạo, cho dù con người có “khuynh hướng tâm linh” đã ấp ủ những quan niệm bốc đồng như thế nào về Thiên đường (Heaven) và Thiên tính (Divinity). Theo ý nghĩa huyền bí học thì tính linh (spirituality) chẳng dính dáng bao nhiêu tới lòng khao khát mộ đạo, nó chỉ liên quan tới năng lực tâm trí đồng hóa được tri thức tại ngay cội nguồn của chính tri thức, tức là tri thức tuyệt đối, thay vì phải lập luận qua một tiến trình vòng vèo và vất vả.
Việc phát triển trí năng thuần túy tức là năng lực lập luận đã là công việc của các quốc gia Âu Tây từ lâu rồi. Trong địa hạt tiến bộ này của loài người, họ đã thành tựu được những thắng lợi rực rỡ vì vậy bản thân những người Âu Tây thoạt tiên không muốn chấp nhận triết lý huyền bí học vì họ không hiểu rõ những ý tưởng hữu quan trước hết là việc huyền bí học quan niệm như thế nào về trí năng và tính linh. Nhưng đó đâu phải là vì khoa học huyền bí có khuynh hướng miệt thị quá đáng trí năng, trái lại đó là do sự suy đoán hiện đại của Tây phương có khuynh hướng quá miệt thị tính linh. Nói chung thì cho đến nay, triết học Tây phương chưa có cơ hội để đánh giá cao tính linh, nó chưa làm quen được với phạm vi những năng khiếu tâm linh của con người, nó chỉ mò mẫm một cách mù quáng đi theo chiều hướng tin tưởng rằng có tồn tại những năng khiếu nội tâm ấy. Bản thân Kant là người điển hình hiện đại cao siêu nhất của ý niệm này cũng chẳng làm được gì khá hơn là bằng lòng với việc có tồn tại một năng khiếu gọi là trực giác, miễn là chúng ta biết cách làm việc với trực giác.
Tiến trình làm việc với trực giác chính là khoa học huyền bí ở khía cạnh cao siêu nhất tức là việc trau dồi tính linh. Khoa học huyền bí ở khía cạnh thấp nhất chính là việc vun bồi chỉ một quyền năng chế ngự các lực của Thiên nhiên và khảo sát một số bí nhiệm tế vi của Thiên nhiên liên quan tới những nguyên tắc nội tại chi phối những kết quả trên cõi trần. Khoa học vật lý có thể và ắt phải dần dần đưa hoạt động của mình vào trong cái phạm vi thấp thỏi đó. Nhưng việc chỉ dùng trí năng (tức là khoa học vật lý đạt đến mức tột đỉnh) để mưu tìm những đặc quyền vốn là thuộc tính duy nhất của tính linh ắt là một trong những nguy cơ của cuộc đấu tranh sẽ quyết định số phận cuối cùng của Bản ngã con người. Đó là vì có một điều mà các tiến trình trí năng không thể giúp cho loài người liễu ngộ được: bản chất và sự siêu việt của cuộc sống tâm linh. Trái lại, trí năng bắt nguồn từ những nguyên nhân vật thể vốn là sự hoàn hảo của óc phàm cho nên chỉ có khuynh hướng tạo ra những kết quả trên cõi trần để đạt được sự hoàn hảo về phúc lợi vật chất. Mặc dù vậy, để nhân nhượng cho những người “anh em yếu kém” và “tôn giáo” mà nó nhìn bằng cặp mắt hài hước khi dễ, trí năng hiện đại cũng không dám kết án tính linh; nó chỉ đinh ninh rằng cuộc sống của con người trên cõi trần là công việc nghiêm túc duy nhất mà những người đứng đắn hoặc ngay cả những nhà nhân ái thành khẩn nhất cũng phải quan tâm đến. Nhưng dĩ nhiên là nếu cuộc sống tâm linh, nếu tâm thức nội giới sống động thực sự tiếp diễn trong những thời kỳ so với những thời kỳ tồn tại bằng trí năng trên cõi trần có tỉ lệ là 80 trên 1 (đây là mức ít nhất theo như ta đã bàn luận về tình trạng cõi Devachan) thì chắc chắn là cuộc sống nội giới của con người phải quan trọng hơn cuộc sống trên cõi trần và trí năng thật là sai lầm khi nó chỉ dồn mọi nỗ lực để cải thiện kiếp sống trên cõi trần.
Nhận xét nêu trên cho thấy việc chọn lựa giữa điều thiện và điều ác (mà bản ngã con người phải thực hiện trong quá trình đấu tranh vĩ đại giữa trí năng và tính linh) không chỉ là chọn lựa giữa những ý tưởng mâu thuẫn với nhau một trời một vực như là sự độc ác và đức tính. Vấn đề không đơn giản chì là cho dù con người độc ác hay có nhiều tính tốt thì vào lúc đạt được bước ngoặt cuối cùng y cũng phải thực sự quyết định xem liệu mình sẽ tiếp tục sống nữa và tiến sang các giai đoạn tồn tại cao siêu hơn hay sẽ không còn sống nữa. Sự thật của vấn đề là (nếu ở giai đoạn này trong khi tiến hóa chúng ta không bất cẩn khi chỉ sơn phết bề ngoài lên trên một điều bí nhiệm mà thôi) việc còn tồn tại hay không tồn tại không được quyết định dựa vào vấn đề con người là độc ác hay có nhiều tính tốt. Cuối cùng thì ta phải thấy rõ rằng có cả tính linh tốt lẫn tính linh xấu. Như vậy vấn đề lớn có tiếp tục tồn tại nữa hay không té ra là vấn đề tính linh so với tính vật thể. Vấn đề không còn là: liệu con người có còn sống hay chăng nếu y có đủ tính tốt để được phép sống thêm nữa, mà là liệu con người có thể sống thêm nữa chăng trên các cõi tồn tại cao siêu mà loài người cuối cùng phải tiến hóa lên đó. Liệu y có khả năng sống thêm bằng cách trau dồi các phần tử trường cửu trong bản chất của mình hay chăng? Nếu y không có khả năng đó thì y đã cùng đường rồi.
Ta không được vội vã giả sử rằng triết học huyền bí coi tính tốt và tính xấu là không có ảnh hưởng gì tới số phận tâm linh của con người, vì trong Thiên nhiên nó chưa tìm ra được những đặc tính nào sẽ xác định được sự tiến hóa tối hậu. Không có một hệ thống nào linh động về mặt đạo đức hơn là hệ thống mà triết lý huyền bí thăm dò và xiển dương. Nhưng bản thân tính tốt và tính xấu vẫn xác định sự hạnh phúc và sự khốn khổ, có điều là chúng không xác định vấn đề tối hậu có tiếp tục tồn tại nữa hay chăng khi vượt quá cái thời kỳ vô cùng xa xăm trong diễn trình tiến hóa mà con người bắt đầu phải vượt lên trên cái nhân tính của mình chứ không còn có thể tiếp tục tiến bộ chỉ dựa vào những thuộc tính tương đối thấp của con người. Quả thật là người ta khó lòng mà tưởng tượng được đức tính lại không thể dứt khoát tạo ra được vào đúng lúc những thuộc tính cao siêu cần thiết, nhưng chúng ta ắt không chính xác về mặt khoa học khi bảo rằng nó là nguyên nhân của sự tiến bộ trong những giai đoạn tiến hóa tối hậu, mặc dù nó có thể tạo ra sự phát triển của điều vốn là nguyên nhân của sự tiến bộ đó.
Cái nhận xét này (theo đó sự tiến hóa tối hậu do tính linh xác định bất chấp sắc thái đạo đức của nó) chính là ý nghĩa vĩ đại của giáo lý huyền bí học theo đó “muốn bất tử về điều thiện, người ta phải đồng nhất hóa với Thượng Đế, muốn bất tử về điều ác, người ta phải đồng nhất hóa với quỉ Sa tăng. Đây là hai cực đoan của thế giới linh hồn, ở giữa hai cực đoan này là bộ phận loài người vô dụng sẽ sống như loài cây cỏ và chết đi mà không bị mê mờ bản tâm” [[7]]. Cũng như mọi công thức huyền bí, điều khó hiểu này có một cách áp dụng thứ yếu (thích ứng với tiểu vũ trụ cũng như đại vũ trụ); xét theo ý nghĩa thứ yếu thì nó nhằm nói tới Devachan hoặc A tỳ, và số phận vô thưởng vô phạt của những phàm ngã vô ký (không thiện không ác); nhưng xét theo ý nghĩa quan trọng hơn thì nó có liên lạc tới sự lọc lựa cuối cùng cùa loài người vào giữa cuộc tuần hoàn lớn thứ năm, những Bản ngã hoàn toàn phi tâm linh bị tiêu diệt để cho những bản ngã khác tiến lên hoặc là bất tử về điều thiện hoặc là bất tử về điều ác. Đây chính là ý nghĩa gắn liền với đoạn sau đây trong thánh thư Khải huyền (iii.15-16):
“Ta muốn con hoặc là lạnh hoặc là nóng, thế mà bởi vì con chỉ nguội nguội thôi, chẳng nóng chẳng lạnh, cho nên ta khạc con ra khỏi miệng của ta.”
Như vậy tính linh không phải chỉ là khát vọng sùng đạo; nó là một loại trí năng cao siêu nhất khiến cho ta nhận biết được sự vận hành của Thiên nhiên do tâm trí đã trực tiếp đồng hóa với các nguyên khí cao. Trí phàm thường phản đối quan điểm này khi cho rằng tâm trí không thể nhận biết được điều gì nếu không quan sát các hiện tượng rồi lý luận dựa vào đó. Lời phản đối này là lầm lẫn vì tâm trí có thể nhận biết được mà bằng chứng cao nhất là sự tồn tại của khoa học huyền bí. Nhưng xung quanh chúng ta cũng có những điều ẩn ý chỉ cho ta bằng chứng theo chiều hướng đó miễn là chúng ta đủ kiên nhẫn để khảo sát chân ý nghĩa của nó. Nói đúng ra thì thật hoài công nhưng có một điều là hiện tượng thần nhãn (cho dù ở dưới dạng thô thiển và không hoàn hảo thì chúng cũng khiến cho thế gian phải lưu ý) chứng tỏ rằng có những đường lối nhận biết khác ngoài năm giác quan. Chắc chắn là trong cõi giới bình thường thì năng khiếu thần nhãn cực kỳ hiếm hoi nhưng nó chứng tỏ rằng nơi con người có tiềm năng mà bản chất của tiềm năng này suy ra từ những biểu lộ sơ khai nhất hiển nhiên là có thể phát triển cao siêu đưa tới việc trực tiếp đồng hóa được tri thức độc lập với việc quan sát.
Một trong những khó khăn gây bối rối khiến cho ta không thể chuyển dịch giáo lý bí truyền thành ra ngôn ngữ minh bạch thật sự là do tri thức tâm linh vốn tách rời mọi tiến trình bình thường để thu nhận kiến thức; tri thức tâm linh là một khả năng vĩ đại trong bản chất của con người. Chính nhờ phương pháp này mà các Chơn sư đã giáo huấn đệ tử qua một tiến trình rèn luyện huyền bí học chính qui. Các ngài khơi hoạt các năng khiếu còn yên ngủ nơi người đệ tử và dùng nó để làm thấm nhuần tâm trí của y khiến cho y biết chắc rằng giáo lý như vậy đúng là sự thật. Trọn cả hệ thống tiến hóa mà những chương trước kia dần dần ngấm vào tâm trí của người đệ tử thực thụ bởi vì y có khả năng thấy được diễn trình tiến hóa xảy ra qua năng khiếu thần nhãn. Người ta tuyệt nhiên không dùng một lời lẽ nào để giáo huấn y. Và chính các Chơn sư vốn quen thuộc với những sự kiện và tiến trình trong Thiên nhiên giống như chúng ta quen thuộc với năm ngón tay của mình; các ngài cũng thấy thật khó mà giải thích trong một bộ khảo luận những điều mà các ngài không thể minh họa được vì không tạo ra được một hình tư tưởng trong giác quan thứ sáu còn yên ngủ trong chúng ta về cơ cấu tổ chức phức tạp của hệ thống hành tinh.
Chắc chắn là ta không thể trông mong rằng nhân loại nói chung cho đến nay sẽ có được giác quan thứ sáu hữu thức, vì nó chưa đến lúc hoạt động. Người ta đã nêu rõ rằng mỗi cuộc tuần hoàn đều lần lượt được dành để hoàn thiện những nguyên khí tương ứng nơi con người theo xét thứ tự bằng số và chuẩn bị cho y đồng hóa với nguyên khí kế tiếp. Trong những cuộc tuần hoàn trước kia, người ta đã mô tả con người ở trong một hình dạng lờ mờ, có tổ chức lỏng lẻo và không thông minh. Nguyên khí thứ nhất tức là thể xác đã được phát triển, nhưng nó còn đang làm quen với sinh lực tăng trưởng và không giống như bất cứ điều gì chúng ta hiện nay có thể hình dung được. Cuộc tuần hoàn thứ tư mà giờ đây chúng ta đang dấn thân vào là cuộc tuần hoàn trong đó nguyên khí thứ tư tức Ý chí hay Dục vọng đã phát triển trọn vẹn; trong cuộc tuần hoàn này con người bắt đầu dấn thân vào việc đồng hóa với nguyên khí thứ năm tức lý trí, trí thông minh. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, thì lý trí đã phát triển viên mãn tức là trí năng hay hồn người mà Bản ngã con người ngự nơi đó phải đồng hóa với nguyên khí thứ sáu tức là tính linh, bằng không thì nó sẽ chẳng thể tồn tại được nữa.
Tất cả những người đã đọc kho tài liệu Phật giáo đều quen thuộc với những lời chỉ dẫn thường xuyên đề cập tới việc vị La hán đã hiệp nhất hồn của mình với Thượng Đế. Nói cách khác, ngài đã phát triển được nguyên khí thứ sáu trước thời hạn. Ngài đã nỗ lực vượt qua mọi trở ngại cản trở công việc bình thường của một người thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư để nhập vào cái giai đoạn tiến hóa đang chờ đón những người còn lại của loài người (hoặc nói cho đúng hơn là đại đa số loài người đã đạt tới mức này trong diễn trình bình thường của Thiên nhiên) trong nửa cuối của cuộc tuần hoàn thứ năm. Và ta ắt nhận xét rằng khi làm như vậy, ngài đã vượt qua thời kỳ nguy hiểm nhất tức là lúc giữa cuộc tuần hoàn thứ năm. Đây là thành tựu phi thường của vị Chơn sư đối với bản thân mình. Ngài đã đạt tới bờ bên kia của biển khổ mà biết bao nhiêu người sẽ đắm chìm trong đó. Ngài chờ đợi ở đó trong một tình trạng hoàn mãn mà người ta chẳng bao giờ liễu ngộ được nếu bản thân họ không có được một chút tính linh tức giác quan thứ sáu; ngài chờ đợi các đồng loại của mình trong tương lai cũng sẽ đến đó với ngài. Để tránh hiểu lầm, tôi xin nói thêm ngay tức khắc rằng ngài không chờ đợi trong thể xác, khi cuối cùng ngài có đặc quyền chờ đợi, thì ngài ở trong một trạng thái tâm linh mà thật là điên rồ khi thử ra sức mô tả trong khi ngay cả trạng thái Devachan của nhân loại bình thường cũng hầu như vượt ngoài tầm tưởng tượng của những người không lão luyện về khoa học tâm linh.
Nhưng ta hãy quay lại diễn trình bình thường của loài người khi các thiện nam tín nữ tăng trưởng trở thành những người thuộc cuộc tuần hoàn thứ sáu mà không trở thành các Chơn sư trước kỳ hạn. Ta ắt nhận thấy rằng đây chỉ là một diễn trình bình thường của Thiên nhiên theo một ý nghĩa mà thôi, cũng giống như diễn trình bình thường của Thiên nhiên khi một hạt thóc rơi xuống một mảnh đất thích hợp thì sẽ nảy nở thành một bông lúa. Nhưng cũng giống như nhiều hạt thóc không có được số phận đó thì cũng có nhiều Bản ngã con người không bao giờ vượt qua được những sự thử thách của cuộc tuần hoàn thứ năm. Nỗ lực cuối cùng trong Thiên nhiên để cho con người phát triển thành ra một tạo vật vô cùng cao siêu, một tác nhân có ý thức theo ý nghĩa bình thường là cuối cùng y sẽ trở thành một nguyên khí sáng tạo trong Thiên nhiên. Thành tựu đầu tiên là phải làm cho tự do ý chí nẩy nở, kế đó là làm cho tự do ý chí được trường tồn bằng cách hướng dẫn nó hợp nhất với mục đích tối hậu của Thiên nhiên tức là điều thiện. Trong diễn trình tiến hóa như vậy, tất nhiên là có nhiều phần tự do ý chí sẽ được triển khai hướng về phía điều ác và sau khi tạo ra sự đau khổ nhất thời thì nó sẽ bị xua tan đi và tiêu diệt. Vả lại, người ta chỉ đạt được mục đích tối hậu bằng cách phung phí rất nhiều vật liệu cũng giống như công việc tiếp diễn ở những giai đoạn thấp của sự tiến hóa khi người ta rải cả ngàn hạt giống của loài cây cỏ thì chỉ có một hạt giống cuối cùng đơm hoa kết trái thành ra một cái cây mới; cũng vậy, những chủng tử giống như Thượng Đế của Ý chí được gieo vào trong lòng mỗi người một cách phong phú chẳng khác nào những hạt giống được rải rắc trong gió. Do sự kiện như thế, liệu người ta có thể dị nghị rằng sự công bình của Thiên nhiên sẽ bị tổn thương do nhiều mầm mống này bị hủy diệt hay chăng? Một ý tưởng như thế chỉ có thể xuất hiện trong tâm trí người nào chưa liễu ngộ được rằng trong Thiên nhiên có dành chỗ cho mọi mầm mống phát triển nếu nó muốn phát triển, và nó phát triển đến mức nào thì tùy theo ý nó chọn nhiều hay ít. Bất cứ người nào dường như cảm thấy khủng khiếp khi cho rằng một “linh hồn bất tử” lại bị tiêu diệt trong một hoàn cảnh nào đó thì ấn tượng của y chỉ có thể là vì y có thói quen tai hại là xem xét mọi việc đều có tính chất vĩnh hằng mà cuộc sống trong tiểu vũ trụ không thể có được. Trong các cõi nội giới và trong thời gian trải qua chu kỳ thành trụ (manvantara) theo chuỗi mắt xích trước khi chúng ta tiến gần tới giai đoạn Dhyan Chohan hoặc giống như Thượng Đế, thì vẫn có thể dành sẵn nhiều hơn mức mà óc phàm quan niệm được về tính bất tử. Mọi hành động tốt đẹp và sự thôi thúc cao siêu mà mỗi thiện nam tín nữ đã từng thực hiện hoặc cảm thấy đều phải được vang vọng qua hàng bao nhiêu chu kỳ tồn tại tâm linh cho dù con người hữu quan đó có khả năng phát triển đến trình độ cao tột vào cuộc tuần hoàn thứ bảy hay chăng. Chính từ những nguyên nhân được tạo ra trong một kiếp ngắn ngủi trên cõi trần mà sự suy đoán theo khoa công truyền dám quan niệm rằng nguyên nhân đó có thể tạo ra những kết quả vĩnh hằng! Chỉ từ một phần bảy trăm tới một phần tám trăm thời gian sống trên cõi trần thế nơi ngoại giới khi ta tồn tại ở đây trong làn sóng sinh hoạt tiến hóa mà chúng ta dám trông mong Thiên nhiên sẽ có được đầy đủ lý do để quyết định trọn cả đời sinh hoạt sau đó của ta. Thật ra, thì Thiên nhiên sẽ báo đáp lại một cách hào phóng khi con người sử dụng quyền năng ý chí tương đối bé nhỏ của mình theo chiều hướng đúng đắn, cho nên những điều trông mong quá lố vừa nêu cũng có thể xuất hiện vì khi nó áp dụng một cách quá lố cho những kiếp bình thường thì chỉ một kiếp ngắn ngủi thôi đôi khi cũng đủ để tiên liệu cho sự phát triển trong cả tỉ năm. Trong một kiếp trên trần thế [[8]] vị Chơn sư đã đạt tới mức tiến bộ đến nỗi mà chắc chắn là ngài sẽ tiếp tục phát triển sau đó, vấn đề chỉ là thời gian. Nhưng cái chủng tử tạo ra một Chơn sư trong kiếp sống của ta phải bắt đầu một cách rất hoàn hảo với những hoàn cảnh phát triển rất thuận lợi ban đầu, hơn nữa bản thân con người cũng phải cố gắng suốt đời, tập trung nhiều hơn, quyết liệt hơn, gian lao hơn mức mà một kẻ chưa được điểm đạo ngoài cuộc có thể liễu ngộ được. Trong những trường hợp bình thường, một cuộc sống cứ trăn trở giữa một đàng là sự hưởng thụ vật chất còn một đàng là khát vọng tâm linh (cho dù khát vọng đó chân thành và cao đẹp đến đâu đi chăng nữa); cuộc sống đó chỉ có thể tạo ra một kết quả lưỡng tính tương ứng tức là một phần thưởng tâm linh nơi Devachan để rồi lại tái sinh trên cõi trần. Ta phải nhận xét rằng cách thức mà vị Chơn sư vượt qua được nhu cầu bình thường cần phải tái sinh, cách thức đó hoàn toàn hợp khoa học và đơn giản mặc dù nó nghe giống như một điều bí nhiệm của thần học khi được phô diễn trong những tác phẩm công truyền bằng cách đề cập tới Nghiệp và Ngũ Uẩn, và Ái dục v. v. . . Kiếp tới trên cõi trần là hậu quả của những ái lực mà nguyên khí thứ năm (tức hồn người liên tục) đã sinh ra do những kinh nghiệm nơi cõi Devachan, trước hết là vì có những tư tưởng và hoài bão với tính cách cao siêu do con người hữu quan tạo ra trong buổi sinh thời. Điều này có nghĩa là trong trường hợp bình thường thì các ái lực được tạo ra có tính cách một phần là vật chất, một phần là tâm linh. Vì vậy nó đẩy phần hồn nhập vào thế giới hậu quả bằng một tập hợp lưỡng tính với một hấp lực cố hữu, một phần tập hợp này tạo ra những hậu quả trong nội giới tức là cuộc sống nơi cõi Devachan, còn phần kia của tập hợp lại được khẳng định vào cuối kiếp sống nơi Devachan để lôi kéo phần hồn trở lại vòng sinh tử luân hồi. Nhưng nếu người ta trong khi sống nơi ngoại giới đã hoàn toàn không còn triển khai những ái lực đối với kiếp sống vật chất thì lúc lâm chung, phần hồn của y chỉ bị thu hút theo một hướng là tính linh chứ tuyệt nhiên không có gì lôi kéo nó trở lại cuộc sống nơi ngoại giới, do đó nó thoát vòng sinh tử luân hồi và trở nên bất lai. Nó đã nhập vào trạng thái tâm linh tương ứng với cường độ thu hút của các ái lực theo một chiều hướng, còn mối liên hệ theo chiều kia thì đã bị cắt đứt.
Thế mà lời giải thích này không hoàn toàn đúng sự thật vì bản thân vị cao đồ cho dù cao cấp đến đâu cuối cùng cũng phải trở lại lâm phàm, sau khi những người còn lại đã vượt qua giai đoạn chia cách lớn lao ở giữa cuộc tuần hoàn thứ năm. Khi mà người ta chưa đạt tới đỉnh cao của quả vị Chơn linh Hành tinh thì hồn người cao siêu nhất vẫn còn có một ái lực nào đó với cõi trần, mặc dù không phải là cuộc sống nơi trần thế để hưởng thụ vật chất và đắm say dục lạc mà chúng ta đang trải qua. Nhưng có một điều quan trọng mà ta phải hiểu được đối với hậu quả tâm linh của kiếp sống trên cõi trần đó là trong đại đa số trường hợp thì ta không cần nhắc tới một thiểu số phi thường. Ý thức công bằng đối với số phận của những người tốt sẽ được thỏa mãn trọn vẹn khi Thiên nhiên tiến dần dần từng bước một theo thời gian. Cuộc sống tinh thần bao giờ cũng sẵn sàng tiếp nhận, cải tạo và phục hồi linh hồn sau những đấu tranh, thành tựu hoặc đau khổ trong kiếp lâm phàm. Hơn nữa, Thiên nhiên cũng dành vấn đề về thời gian vĩnh hằng trong thời kỳ trung gian ở tột đỉnh của mỗi cuộc tuần hoàn cho mọi người đều được hưởng, trừ phi có những kẻ vô phúc thất bại vì cứ khăng khăng bám lấy con đường ác. Những thời khoảng trung gian có được sự cực lạc tâm linh còn lâu dài và cao siêu hơn cả thời kỳ Devachan giữa mỗi kiếp sống riêng biệt. Thật vậy, Thiên nhiên vô cùng hào phóng và kiên nhẫn đối với tất cả mọi ứng viên đạt được kỳ thi tối hậu trong khi vẫn để cho chúng được chuẩn bị lâu dài cho kỳ thi đó. Ngay cả những kẻ thi rớt không qua được kỳ thi tốt nghiệp này cũng không hoàn toàn chịu chết. Những kẻ thi rớt có thể được thi lại nếu chúng không thất bại một cách ô nhục và do đó có thể chờ một dịp mới.
Ta không thể giải thích trọn vẹn những hoàn cảnh chờ đợi như thế trong khuôn khổ của bộ khảo luận này; nhưng ta ắt phải giả sử rằng những thí sinh muốn tiến bộ mà tự tin rằng mình không thích hợp để vượt qua giai đoạn tới hạn của cuộc tuần hoàn thứ năm tất nhiên phải lọt vào cõi bị tiêu diệt. Muốn cho hấp lực đó thể hiện ra, thì Bản ngã phải phát triển việc chủ động bị thu hút về vật chất và chủ động đẩy lùi tính linh với một sức mạnh không gì chống cự nỗi. Nếu không có những ái lực mạnh như thế và nếu không có những ái lực đủ để cho Bản ngã lướt qua được vực sâu thăm thẳm thì số phận dành cho những kẻ thất bại của Thiên nhiên đối với chu kỳ thành trụ hiện nay của hành tinh chỉ là chết đi mà bị mê mờ bản tâm (theo cách diễn tả của Eliphas Lévi). Họ vẫn cứ sống nhăn, vẫn được hưởng phần thưởng nơi Thiên đường nhưng không thể vượt qua được những đỉnh cao tột của sự tiến bộ tâm linh mà họ phải đương đầu. Họ vẫn đủ tư cách để tiếp tục trong vòng sinh tử luân hồi sống trên cõi tồn tại mà họ đã quen thuộc. Vì vậy, họ sẽ chờ đợi trong trạng thái tâm linh tiêu cực mà mình đã đạt được cho đến khi các cõi tồn tại này lại hoạt động trong chu kỳ thành trụ hành tinh kế tiếp. Dĩ nhiên thời gian chờ đợi như thế vượt khỏi tầm tưởng tượng của ta và bản chất chính xác của sự tồn tại này ta cũng không liễu ngộ được khi đang xem xét hiện nay; nhưng ta phải lưu ý đến cái con đường rộng thênh thang băng qua vùng đất xa lạ mơ màng nửa tỉnh nửa say này thì mới nhận thức được sự cân đối và hoàn chỉnh của trọn cả thiên cơ tiến hóa.
Và khi ta đã đưa ra hoàn cảnh cuối cùng này, thì độc giả ắt thấy trọn cả cơ tiến hóa với nét phác họa chính yếu của nó mở ra trước mắt mình một cách hoàn chỉnh có thể chấp nhận được. Chúng ta đã thấy sự sống nhất như tức tinh thần trước hết làm linh hoạt vật chất dưới dạng thấp nhất rồi mới khiến cho nó từ từ tăng trưởng thành ra những hình thức cao siêu hơn. Khi cuối cùng nó biệt lập ngã tính nơi con người thì nó lại tiến lên qua những kiếp lâm phàm hạ đẳng và vô trách nhiệm cho tới khi nó thâm nhập vào các nguyên khí cao và làm tiến hóa ra một hồn người chân chính. Từ đó trở đi nó mới làm chủ được số phận của chính mình, mặc dù vào lúc khởi đầu Thiên nhiên vẫn còn phải canh chừng nó để cho nó không bị đắm tàu quá sớm, kích thích và làm cho nó đổi mới trên bước đường tiến hóa của mình. Nhưng số phận tối hậu dành cho linh hồn đó không phải chỉ là phát triển thành ra một thực thể có khả năng tự lo liệu cho mình, mà còn phát triển thành một thực thể có khả năng chăm lo tới những người khác nữa, chủ trì và điều khiển những hoạt động của Thiên nhiên trong khuôn khổ của cái có thể gọi là những giới hạn do cấu tạo. Rõ ràng là trước khi linh hồn có được quyền thăng tiến như vậy, thì nó phải bị thử thách bằng cách giao cho nó trọn quyền kiểm soát công việc của chính mình. Tất nhiên sự toàn quyền này cũng bao hàm khả năng có thể bị đắm tàu. Bản ngã còn non nớt phải được canh chừng, nó không thể nhập vào các trạng thái cao siêu hoặc thấp hơn so với các trạng thái Devachan và A tỳ giữa hai kiếp sống vốn chỉ được dành cho nó khi đã trưởng thành. Lúc bấy giờ, nó có toàn quyền đối với số phận của chính mình chẳng những xét về việc trải qua những niềm vui và những nỗi đau nhất thời mà còn xét về những cơ hội to lớn theo cả hai hướng mà kiếp tồn tại mở ra trước mắt nó. Nó có thể chụp lấy những cơ hội cao siêu hơn theo hai cách, nó có thể phấn đấu theo hai cách, nó có thể đạt được tính linh cao siêu về điều thiện hay là về điều ác, nó cũng có thể toa rập với tính vật chất để không phải chỉ là điều ác mà còn là bị hủy diệt hoàn toàn; mặt khác, nó có thể không đạt được điều thiện mà chỉ đạt được kết quả tiêu cực trong lúc mới bắt đầu quá trình giáo dục để rồi cứ sinh tử luân hồi mãi.
CHÚ GIẢI
Tình trạng mà các chơn thần khi không vượt qua được điểm giữa của cuộc tuần hoàn thứ năm, ắt phải bị quét sạch khi chu kỳ của làn sóng triều tiến hóa vượt lên, có thể nói sẽ bỏ mặc cho các chơn thần này bị mắc cạn trên bờ thời gian, tình trạng này không được mô tả trọn vẹn trong chương vừa qua. Bằng một vài lời ngắn gọn người ta chỉ nêu rõ rằng những kẻ thất bại trong mỗi chu kỳ thành trụ không hoàn toàn bị tiêu diệt khi họ đã “cùng đường”, mà số phận của họ là phải trải qua một thời kỳ chờ đợi rất lâu dài trước khi một lần nữa được chuyển vào dòng tiến hóa. Ta có thể suy ra nhiều điều từ tình trạng sự việc nêu trên. Thời kỳ chờ đợi mà những kẻ thất bại phải trải qua như thế trước hết là một thời kỳ kéo dài rất lâu không thể tưởng tượng nổi. Nửa cuối của cuộc tuần hoàn thứ năm cũng như trọn cả cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy sẽ được thực hiện bởi những kẻ đã thành công tốt nghiệp về mặt tâm linh; và những cuộc tuần hoàn sau này kéo dài vô cùng lâu hơn so với thời kỳ ở giữa. Tiếp đó là quãng thời gian lâu dài yên nghỉ nơi Niết Bàn, kết liễu Chu kỳ thành trụ (manvantara) tức là Đêm đen của Brahma, tức là Chu kỳ hoại không (pralaya) của trọn cả dãy hành tinh. Chỉ đến chu kỳ thành trụ kế tiếp bắt đầu thì những kẻ thất bại mới bừng tỉnh dậy thoát khỏi cơn đê mê dễ sợ; dễ sợ đối với óc những người đang tràn đầy nhựa sống, mặc dù một tình trạng đê mê như thế tất nhiên là vô ý thức cho nên cũng chẳng có gì tẻ nhạt hơn một đêm ngủ say không mộng mị trong ký ức của những kẻ đã ngủ ngon giấc. Trước hết số phận của những kẻ thất bại sẽ trở nên nghiêm trọng, đúng hơn là vì họ đã bỏ lở cơ hội chứ không phải vì họ đã chuốc lấy trạng thái đó. Tuy nhiên xét thêm nữa thì số phận này là nghiêm trọng do hậu quả của nó, vì y phải trải qua trở lại mọi sự phiền não của kiếp sống trần gian với những kiếp lâm phàm hầu như vô tận khi bừng mắt tỉnh dậy. Trong khi đó, những vị hoàn hảo đã vượt xa họ về mặt tiến hóa vào cuộc tuần hoàn thứ năm khi họ bị thất bại, thì những vị này đã phát triển đến mức hoàn hảo giống như Thượng Đế của quả vị Dhyan Chohan trong lúc họ vẫn còn đê mê, các đấng này sẽ là các thần nhân chủ trì chu kỳ thành trụ kế tiếp chứ không phải là những kẻ phàm phu bơ vơ.
Mặt khác, ngoài việc xét tới lợi ích cá nhân của những thực thể hữu quan, thì sự tồn tại của những kẻ thất bại trong Thiên nhiên vào lúc bắt đầu một chu kỳ thành trụ mới chính là một sự kiện góp phần rất quan trọng để cho ta hiểu được hệ thống tiến hóa. Khi dãy hành tinh thoạt tiên được triển khai từ hỗn mang (tạm dùng cách diễn tả “thoạt tiên” theo ý nghĩa hình dung từ với ngụ ý “sự khởi đầu” này chỉ là một cách nói áp dụng cho bất cứ thời kỳ nào trong thời gian vĩnh hằng) thì không hề có kẻ thất bại nào dính dáng vô đó. Thế rồi tinh thần giáng xuống vật chất trải qua các giới tinh hoa ngũ hành, khoáng vật và những giới khác, để rồi tiếp diễn theo con đường mà ta đã mô tả ở những chương trước kia trong quyển sách này. Nhưng kể từ chu kỳ thành trụ thứ nhì của một dãy hành tinh trở đi (khi thái dương hệ đang ở thời kỳ hoạt động bao gồm nhiều chu kỳ thành trụ như thế), diễn tiến các sự việc hơi khác, dễ hơn (xin lại tạm dùng một cách diễn tả lẽ ra nên được áp dụng trong những câu chuyện thường đàm hơn là theo ý nghĩa nghiêm xác của khoa học). Dù sao đi nữa thì sự tiến hóa vẫn nhanh hơn đối với các thực thể loài người đã tồn tại vì họ sẵn sàng lâm phàm ngay khi thế giới đã được chuẩn bị đúng mức vì thế giới cũng đã tồn tại rồi. Sự thật dường như là sau chu kỳ thành trụ thứ nhất của cả chuỗi chu kỳ (chu kỳ thứ nhất dài nhơn nhiều so với những chu kỳ kế tiếp) thì không còn một thực thể nào trước kia tiến lên từ các giới hạ đẳng mà lại đạt được hơn mức ngấp nghé ngưỡng cửa của loài người. Những kẻ mới vừa thất bại trước hết phải lâm phàm rồi cuối cùng mới tới những thực thể động vật còn sống sót và đã bị biến dị. Nhưng khi so sánh với những đoạn văn trong giáo lý bí truyền liên quan đến cuộc tiến hóa hiện nay của giống dân chính chúng ta thì những nhận xét này vốn liên quan tới những thời kỳ rất sơ khai của cuộc tiến hóa thế giới ắt chẳng có gì khác hơn là một sự thú vị dành cho cái trí; vì vậy cho đến nay tôi không đóng góp gì thêm nữa để mở rộng nó ra thật nhiều.