17/6/14

Phật giáo bí truyền – Thông Thiên Học (Kỳ 11): Vũ trụ

Trong mọi kho tài liệu Đông phương liên quan tới cấu tạo của vũ trụ người ta thường đề cập tới ngày và đêm của Brahma, tức là nhịp hít vào và thở ra của nguyên lý sáng tạo, tức là các chu kỳ thành trụ (manantara) [[9]] và chu lỳ hoại không (pralaya). Ý tưởng này cũng có trong nhiều thần thoại Đông phương, nhưng ở đây chúng ta không cần theo dõi các khía cạnh biểu tượng của nó. Tiến trình Thiên nhiên mà nó đề cập tới dĩ nhiên là sự nối tiếp luân phiên của thời kỳ hoạt động và yên nghỉ mà ta có thể quan sát thấy trong mỗi bước tiến hóa kể cả nơi tiểu vũ trụ cực vi lẫn đại vũ trụ cực vĩ. Con người có một chu kỳ thành trụ (manvantara) và chu kỳ hoại không (pralaya) kéo dài 24 tiếng đồng hồ tức là thời kỳ thức và thời kỳ ngủ; loại thực vật cũng theo qui tắc đó từ năm này sang năm khác khi nó rụng lá rồi lại nẩy nở đơm bông kết trái theo mùa. Thế giới cũng vậy, cũng có các chu kỳ thành trụ và hoại không khi làn sóng triều nhân loại đã đạt đến bờ bên kia, trải qua sự tiến hóa của bảy giống dân rồi lại biến đi đâu mất và hầu hết các tôn giáo công truyền coi một chu kỳ thành trụ như thế là trọn cả chu kỳ của thời gian vĩnh hằng.
Chu kỳ thành trụ chính yếu thuộc dãy hành tinh chúng ta là chu kỳ sẽ kết liễu khi đấng Dhyan Chohan cuối cùng gồm loài người đã toàn bích thuộc cuộc tuần hoàn thứ bảy đã nhập Niết Bàn. Và việc diễn tả như thế được coi là rất linh động. Thật vậy có thể nói là nó vô cùng linh động và sẽ giải thích được cho sự lẫn lộn vốn tràn ngập trong mọi bộ khảo luận về tôn giáo Đông phương xét theo khía cạnh bình dân. Mọi từ gốc (root word) được chuyển đạt thành ra kho tài liệu bình dân (do bắt nguồn từ giáo lý bí truyền) ít ra đều có bảy ý nghĩa đối với một vị điểm đạo đồ, còn đối với một độc giả chưa được điểm đạo thì người này tự nhiên là giả sử rằng một từ chỉ có một nghĩa thôi, cho nên y luôn luôn ra sức làm cho ý nghĩa nó được minh bạch rồi đem áp dụng vào đủ mọi trường hợp, tìm ra một ý nghĩa trung bình để rồi đi đến chỗ rối trí một cách tuyệt vọng nhất.
Dãy hành tinh liên quan tới chúng ta không phải là dãy hành tinh duy nhất mà mặt trời là trung tâm điểm. Vì ngoài trái đất của chúng ta ra trong dãy hành tinh này còn có những hành tinh khác; cũng giống như vậy, ngoài dãy hành tinh của chúng ta ra thì trong thái dương hệ cũng có những dãy hành tinh khác. Như vậy có tới bảy dãy hành tinh và đến một lúc nào đó thì cả bảy dãy hành tinh đều cùng nhau bước vào chu kỳ hoại không (pralaya). Ta gọi đó là một chu kỳ hoại không của thái dương hệ, trong khoảng thời gian giữa hai chu kỳ hoại không đó, thì chu kỳ thành trụ lớn lao của thái dương hệ lại bao gồm bảy chu kỳ thành trụ và bảy chu kỳ hoại không của dãy hành tinh chúng ta. Cứ nghĩ như vậy cũng đủ thấy khó khăn rồi, ngay cả đối với những bậc cao đồ khi suy đoán xem có biết bao nhiêu chu kỳ hoại không của thái dương hệ phải xảy ra trước khi có đêm đen lớn lao của vũ trụ diễn ra cho trọn cả vũ trụ, xét về qui mô tập thể to lớn thì vũ trụ hiển nhiên cũng tuân theo cái luật phổ biến là hoạt động và yên nghỉ, khi hằng hà sa số các thái dương hệ đều cùng nhau chuyển vào chu kỳ hoại không. Nhưng khoa học bí truyền bảo rằng ngay cả cái thành quả ghê gớm đó chắc chắn rồi cũng phải đến.
Sau khi có chu kỳ hoại không của chỉ một dãy hành tinh thôi, thì tuyệt nhiên không cần phải bắt đầu hoạt động tiến hóa trở lại như là mới tinh. Chỉ có việc là khởi động trở lại hoạt động vốn đã bị ngưng trệ. Các giới thực vật và động vật (vào lúc kết thúc chu kỳ thành trụ tương ứng vừa qua mới chỉ phát triển một phần) không hề bị hủy diệt. Sự sống tức năng lượng sinh tồn của chúng vẫn trải qua một đêm đen tức thời kỳ yên nghỉ; có thể nói là chúng cũng có Niết Bàn của riêng mình, thế thì tại sao những thực thể vẫn còn phôi thai và ấu trĩ này lại không có được chứ? Giống như chúng ta, chúng đều được sinh ra từ một nguyên tố duy nhất. Cũng như chúng ta có các đấng Dhyan Chohan, xét về nhiều phương diện chúng cũng có nhiều giới các đấng canh chừng thuộc về ngũ hành, các đấng này cũng chăm sóc chúng xét theo đại khối giống như các vị Dhyan Chohan chăm sóc khối lượng lớn loài người. Nguyên tố duy nhất chẳng những lấp đầy và chính là không gian, mà nguyên tố đó còn thấm nhuần mọi nguyên tử vật chất vũ trụ.
Tuy nhiên, khi đã đến giờ của chu kỳ hoại không thái dương hệ, thì mặc dù sự tiến bước của con người trong cuộc tuần hoàn cuối cùng thứ bảy cũng vẫn đúng như là thông lệ, mỗi hành tinh thay vì chỉ chuyển từ hữu hình sang vô hình khi con người đã rời khỏi nó thì hành tinh đó lại bị tiêu diệt. Khi cuộc tuần hoàn thứ bảy của dãy hành tinh thứ bảy trong chu kỳ thành trụ bắt đầu, thì mọi giới giờ đây đã đạt tới chu kỳ cuối cùng, cho nên sau khi con người biến mất thì trên hành tinh chỉ còn lại sự hão huyền của những hình tướng đã từng có lần sống và tồn tại. Mỗi bước đi mà con người tiến theo vòng cung đi xuống rồi lại đi lên, và di chuyển từ hành tinh này sang hành tinh khác, thì bầu hành tinh bỏ lại đàng sau bèn trở thành một cái vỏ kén trống rỗng. Lúc con người ra đi thì mọi giới cũng đều lưu xuất các thực thể cùa mình. Trong khi chờ đợi chuyển sang các dạng thức cao hơn khi đến đúng lúc, thì song le chúng lại được tự do, và cho đến ngày tiến hóa kế tiếp thì chúng vẫn yên nghỉ trong giấc ngủ hôn thụy ở trên không gian cho tới khi chúng phục sinh trở lại vào chu kỳ thành trụ mới của thái dương hệ. Các tinh linh ngũ hành cũ sẽ ngưng nghỉ cho đến khi chúng được hiệu triệu trở lại để tới lượt chúng trở thành cơ thể của các giới khoáng vật, thực vật và động vật thuộc một dãy hành tinh khác cao hơn trên bước đường trở thành con người. Trong khi đó các thực thể mầm mống thuộc hình tướng thấp nhất – vào lúc đó chỉ còn có một ít hình tướng này thôi – sẽ treo lơ lửng trong không gian giống như những giọt nước thình lình biến thành những khối băng nhỏ. Chúng sẽ tan chảy ra khi hơi ấm đầu tiên của chu kỳ thành trụ thái dương hệ mới phà vào chúng, và chúng sẽ tạo thành phần hồn của các bầu hành tinh tương lai. Mãi cho tới thời kỳ mà giờ đây chúng ta đang xét thì giới thực vật chỉ phát triển chậm chạp, nguyên do là vì con người đã yên nghỉ lâu dài trong chu kỳ liên hành tinh. Khi chu kỳ hoại không của thái dương hệ xảy ra, thì trọn thể loài người thanh tịnh bèn nhập Niết Bàn và họ sẽ tái sinh vào các thái dương hệ cao hơn xuất phát từ Niết Bàn liên thái dương hệ đó. Các dãy thế giới bị hủy diệt và biến mất giống như một cái bóng biến ra khỏi bức tường khi ánh sáng tắt phụt. Các Chơn sư có dạy: “Chúng tôi có mọi chỉ dẫn cho thấy rằng ngay lúc này đây có một chu kỳ hoại không thái dương hệ như thế đang diễn ra, và có hai chu kỳ hoại không thứ yếu kết liễu ở đâu đó.”
Vào lúc bắt đầu chu kỳ thành trụ mới của thái dương hệ, thì các nguyên tố của thế giới vật chất hiện nay đang tản mác trong bụi vũ trụ bèn nhận được sự thôi thúc từ các vị Dhyan Chohan mới của thái dương hệ mới (các đấng cao siêu nhất của thái dương hệ cũ đã tiến cao hơn rồi). Các nguyên tố này sẽ tạo thành những gợn sóng lăn tăn nguyên thủy của sự sống, chúng chia ra thành các trung tâm hoạt động biến dị và phối hợp lại theo một giai bậc có thứ tự gồm bảy trình độ tiến hóa. Cũng như mọi tinh cầu khác trong không gian, trước khi đạt tới tính vật chất tối hậu thì trái đất phải trải qua một giai bậc gồm bảy mức trọng trược. Hiện nay trên thế giới không có điều gì giúp ta quan niệm được trình độ vật chất cuối cùng sẽ ra sao. Nhà thiên văn học Flammarion người Pháp, trong một quyển sách nhan đề Sự Phục sinh và sự Tận diệt các Thế giới đã gần đạt được một quan niệm về tính vật chất tối hậu này. Tôi được cho biết rằng, nếu thay đổi đi một chút thì các sự kiện rất giống với điều mà ông ta phỏng đoán. Do kết quả của điều mà ông gọi là sự nguội lạnh theo từng thế kỷ (nhưng đúng ra thì là sự già cỗi và mất sinh lực), sự rắn chắc lại và khô héo của trái đất cuối cùng đạt tới mức mà trọn cả bầu hành tinh trở thành một kết khối lỏng lẻo. Thời kỳ sinh con đẻ cái của nó đã qua rồi, con cái của nó đều được nuôi dưỡng tử tế và nó đã kết thúc rồi. Vì thế cho nên những khối cấu tạo thành ra nó không còn tuân theo những định luật cố kết và kết tụ vốn giữ chúng lại với nhau. Và khi trở thành giống như một xác chết, bị bỏ mặc cho công việc hủy diệt để mỗi phân tử cấu thành nó tha hồ rời khỏi nó và trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng những tác dụng mới, thì theo gợi ý của ông Flammarion “chính sức hút của mặt trăng sẽ đảm nhiệm công tác hủy diệt bằng cách tạo ra một đợt sóng triều bao gồm các hạt trên trái đất thay vì là một trận thủy triều.” Khoa học huyền bí coi như không tán thành ý kiến cuối cùng này ngoại trừ việc nó có thể được dùng để minh họa cho sự mất cố kết phân tử trong vật liệu của trái đất.
Khoa vật lý học huyền bí sẽ chuyển vào địa hạt siêu hình học nếu chúng ta tìm cách khám phá về cách thức sự tiến hóa bắt đầu như thế nào sau một chu kỳ hoại không của vũ trụ.
Có một điều duy nhất trong vũ trụ vốn vĩnh hằng và bất diệt khi trải qua các chu kỳ hoại không của vũ trụ vẫn không hề bị hủy hoại, ta có thể coi nó đại khái là không gian, kỳ gian, vật chất hoặc vận động, nó không giống như một điều gì đó có đủ bốn thuộc tính này mà là một điều gì đó vốn chính là bốn sự việc này ngay cùng một lúc và lúc nào cũng như lúc nấy. Sự tiến hóa nảy sinh khi nguyên tử phân cực gây ra vận động. Theo vũ trụ khởi nguyên luận thì các lực âm và dương, tức thụ động và chủ động tương ứng với các nguyên khí nữ và nam. Luồng lưu xuất tinh thần nhập vào bức màn vũ trụ vật chất; nguyên khí chủ động bị nguyên khí thụ động hấp dẫn và ở đây nếu chúng ta có thể trợ giúp cho óc tưởng tượng bằng cách cầu viện tới khoa biểu tượng học huyền bí thời xưa, đó là con rắn Nag biểu tượng của thời gian vĩnh hằng đút cái đuôi vào miệng của mình, do đó tạo ra cái vòng tròn thời gian vĩnh hằng hoặc đúng hơn là các chu kỳ trong thời gian vĩnh hằng. Nguyên khí tinh thần vũ trụ vốn vô thức nhưng bao giờ cũng chủ động ban cấp sự sống, thuộc tính duy nhất và chủ yếu của nó là bành trướng và tán ra; còn thuộc tính duy nhất và chủ yếu của nguyên khí vật chất vũ trụ là gom lại và sinh sôi nẩy nở. Vốn vô thức và vô hiện khi tách rời khỏi nhau, chúng trở nên tâm thức và sự sống khi kết hợp lại với nhau. Thuật ngữ Brahma có ngữ căn tiếng Bắc phạn là brih tức là bành trướng, tăng trưởng hoặc sinh sôi nẩy nở; khoa vũ trụ luận bí truyền chẳng qua chỉ là lực bành trướng làm linh hoạt của Thiên nhiên đang tiến hóa đời đời. Không có một thành ngữ nào lại gây ra nhiều lầm lạc cho tâm trí con người hơn là thuật ngữ “sự sáng tạo” khi người ta căn bản là phỏng đoán về nguồn gốc của vạn vật. Cứ nói tới sự sáng tạo là chúng ta liên tục húc đầu vào bức tường bao gồm các sự kiện. Nhưng một khi ta ngộ ra được rằng trái đất cũng như chính chúng ta cũng là một tạo vật chẳng khá gì hơn một tảng băng hà tức là các trạng thái tự thể trong một thời gian nhất định – sự xuất hiện giờ đây của chúng xét về mặt địa chất hoặc nhân loại học chỉ là tạm bợ và chỉ là một tình huống đồng thời với giai đoạn tiến hóa mà chúng đã đạt tới – thì chúng ta đã dọn đường cho việc suy tư đúng đắn. Có như thế thì ta mới hiểu được ý nghĩa của nguyên khí hoặc nguyên tố duy nhất trong vũ trụ và tại sao người ta coi nguyên tố đó là thư hùng lưỡng tính; nhờ đó ta cũng hiểu được tuyên cáo của triết học Ấn Độ theo đó vạn hữu đều là Hão huyền tức là các trạng thái tạm bợ, chỉ trừ có nguyên tố duy nhất là yên nghỉ trong các chu kỳ hoại không lớn mà thôi, đó là các đêm đen của Brahma.
Có lẽ giờ đây chúng ta đã chìm sâu vào bí nhiệm khôn dò của Nguyên nhân Đầu tiên lớn lao. Cũng chẳng có gì nghịch lý khi bảo rằng chỉ vì vô minh cho nên các nhà thần học thông thường mới nghĩ rằng mình biết quá nhiều về Thượng Đế. Cũng chẳng có gì quá đáng khi bảo rằng các đấng đại diện được thiên phú nhiều phép lạ của khoa huyền bí học mà bản chất con người nhập thế của các ngài cho đến nay đã được thăng hoa và thanh tịnh đến mức nhận thức của các ngài đã thâm nhập được vào các thế giới khác và các trạng thái tồn tại khác. Các ngài đã trực tiếp thông công được với các đấng cao cả hơn con người bình thường, cũng giống như con người vĩ đại hơn loài côn trùng trên cánh đồng; sự thật là các ngài chẳng bao giờ quan tâm tới bất kỳ quan niệm nào về Thượng Đế của các giáo hội và tín ngưỡng vốn xa rời sự thực. Trong giới hạn của thái dương hệ thì bậc Chơn sự nhập thế biết rằng vạn vật đều tuân theo định luật vốn tác động lên vật chất dưới nhiều dạng khác nhau, ngoài ra còn có sự dẫn dắt và ảnh hưởng biến đổi của các đấng thông tuệ cao siêu nhất liên kết với thái dương hệ, đó là các đấng Dhyan Chohan, nhân loại toàn bích của chu kỳ thành trụ trước đó. Thật là hoài công khi ta suy gẫm về bản chất của các đấng Dhyan Chohan tức Chơn linh Hành tinh này chừng nào mà ta ít ra chưa ngộ được bản chất của sự tồn tại thoát xác trong trường hợp của chính mình. Các đấng Dhyan Chohan ban cho thế giới vừa được tỉnh lại (khi chấm dứt chu kỳ hoại không của dãy hành tinh) những xung lực giúp cho sự tiến hóa cảm nhận được trong suốt toàn bộ quá trình này. Định luật vĩ đại của Thiên nhiên quả thật hạn chế tác dụng của các ngài. Các ngài không thể nói, xin thiên đường hãy tràn ngập không gian, mong sao mọi người sinh ra đều được minh triết và tốt bụng hết mức; các ngài chỉ có thể hoạt động thông qua nguyên tắc tiến hóa. Bất cứ kẻ nào cũng có được tiềm năng phát triển mình thành ra một đấng Dhyan Chohan, và các đấng Dhyan Chohan không thể từ khước quyền được làm điều ác dành cho con người, nếu con người thích làm điều ác hơn điều thiện. Khi người ta đã làm điều ác rồi thì các ngài cũng không thể cản trở sự kiện là điều ác đó sẽ gây ra đau khổ. Sự sống nơi ngoại giới là mảnh đất mà các chủng tử sự sống được gieo trồng trên đó; sự sống tinh thần (nên nhớ rằng ta dùng thành ngữ này chỉ để đối đải với sự sống thuần túy vật chất) là đóa hoa mà cuối cùng ta sẽ gặt hái được. Nhưng chủng tử con người là một điều gì đó còn hơn cả một hạt giống của đóa hoa; nó có toàn quyền lựa chọn để tiến hóa hoặc thoái hóa, và nó không thể phát triển nếu không được phép tự do vận dụng cái quyền đó so với cái cây. Vì vậy điều ác là tất yếu. Nhưng trong giới hạn của sự tất yếu hợp lý đó, đấng Dhyan Chohan vẫn ghi khắc quan niệm của mình về những đợt sóng triều tiến hóa lên cho loài người và ngài hiểu được ngọn nguồn về tất cả những gì mà ngài chứng kiến.
Chắc chắn là khi ta suy gẫm như vậy về mức độ lớn lao của sự tiến hóa theo chu kỳ mà khoa học bí truyền đã dấn thân vào như thế, thì dường như là hợp lý khi ta phải hoãn lại việc xem xét nguồn gốc của trọn cả vũ trụ. Kẻ phàm phu đang sống trên trần thế còn có nhiều (chắc chắn là hàng trăm) kiếp sống trên cõi trần chờ đón trong tương lai cũng như những kiếp giữa hai lúc lâm phàm vốn còn quan trọng hơn nữa (quan trọng hơn xét về thời gian kéo dài và viễn ảnh hạnh phúc hay phiền não). Với viễn ảnh đó chắc chắn là y nên quan tâm tới những cuộc điều tra sẽ mang lại các kết quả thực tiễn, điều này khôn ngoan hơn việc suy đoán về những gì mà thực tế là y hoàn toàn không dính dáng đến. Dĩ nhiên là quan điểm của sự suy đoán tôn giáo vốn không dựa vào một sự hiểu biết chính xác về bất cứ điều gì vượt ngoài kiếp sống trên cõi trần, cho nên chẳng có gì quan trọng hoặc thực tế hơn là phỏng đoán về các thuộc tính và những ý định khả hữu của đấng Jehovah hữu ngã khủng khiếp, người ta phác họa ngài giống như một thập điện diêm vương toàn năng mà linh hồn lúc lâm chung phải được áp giải đến trước mắt ngài để phán xét. Nhưng kiến thức khoa học về các sự việc tâm linh đã đẩy lùi ngày phán xét tới tận một viễn ảnh rất xa xăm mà thời kỳ từ nay đến đó còn đầy dẫy đủ thứ hoạt động. Hơn nữa, kiến thức này còn chỉ cho nhân loại, thấy rằng chắc chắn trong hàng triệu triệu thế kỷ sắp tới, loài người sẽ chẳng hề giáp mặt với một thập điện diêm vương nào khác hơn là đấng phán quan thấm nhuần vạn vật, tức là Nguyên khí Thứ bảy, tức là Tinh thần Vũ trụ vốn hiện diện khắp nơi, tác động lên vật chất, mang lại sự tồn tại của con người, và thế giới mà y sống trong đó cũng như những tình huống tương lai mà y đang dấn bước về phía đó. Nguyên khí Thứ bảy vốn không thể định nghĩa được và bất khả tư nghì đối với chúng ta trong giai đoạn giác ngộ hiện nay, cố nhiên là vị Thượng Đế duy nhất mà tri thức bí truyền công nhận, còn bất cứ sự nhân hình hóa nào của nguyên khí này cũng đâu phải chỉ là biểu tượng.
Thế nhưng thật ra thì tri thức bí truyền mang lại sự linh hoạt và thực tại cho khoa biểu tượng học cổ truyền theo một chiều hướng nào đó; nó thường mâu thuẫn với giáo điều hiện tại theo một chiều hướng khác, nó cho ta thấy ngay cả những ý niệm nhân hình nhất mà truyền thuyết công truyền gán cho đấng Thiêng liêng vào lúc sáng thế cũng không hoàn toàn là hoang đường. Chơn linh Hành tinh vốn thực sự lâm phàm giữa nhân quần trong cuộc tuần hoàn thứ nhất chính là nguyên kiểu của đấng thiêng liêng hữu ngã cùng với mọi sự phát triển sau này của ý tưởng đó. Lỗi lầm của kẻ phàm phu khi bàn về ý tưởng này chỉ là sai lầm về cấp độ. Y đã coi vị Thượng Đế nhân hình của một chu kỳ thành trụ thứ yếu không quan trọng là đấng sáng tạo ra trọn cả càn khôn. Đây là một lỗi lầm tự nhiên nhất của những kẻ vì không biết gì nhiều hơn về số phận của con người vốn chỉ bao hàm trong một kiếp lâm phàm nơi ngoại giới, cho nên mới giả sử rằng tất cả những gì vượt ngoài kiếp đó đều là một tương lai tâm linh đồng nhất thể. Dĩ nhiên là vị Thượng Đế trong kiếp này đối với họ cũng là vị Thượng Đế của mọi kiếp, mọi thế giới và mọi chu kỳ. Tôi tin rằng độc giả sẽ không hiểu lầm tôi khi tôi có ý muốn nói khoa học bí truyền coi vị Chơn linh Hành tinh của cuộc tuần hoàn thứ nhất là một đấng thần linh. Như tôi có nói điều này liên quan đến hoạt động của Thiên nhiên trong một không gian vô biên với một quá khứ vô tận và xuyên suốt một tương lai cũng vô lượng. Các địa hạt bao la về thời gian và không gian mà thái dương hệ của chúng ta tác động trong đó thì chỉ các bậc Chơn sư đang nhập thế của khoa học bí truyền mới có thể thăm dò được. Trong giới hạn của những gì mà ngài biết đang diễn ra và cách thức nó diễn ra như thế nào, thì ngài biết rằng vạn vật đều tuân theo ý chí xây dựng của tập đoàn các Chơn linh Hành tinh vốn hoạt động theo luật tiến hóa thấm nhuần trọn cả Thiên nhiên. Các Chơn sư thông công với các Chơn linh Hành tinh này nên học hỏi được từ các Chơn linh đó cái định luật vốn cũng là định luật của các thái dương hệ khác. Các thái dương hệ khác là địa hạt mà năng lực nhận thức của các Chơn linh Hành tinh thâm nhập vào được cũng chẳng khác gì năng lực nhận thức của các Chơn sư có thể thâm nhập vào sự sống của các hành tinh khác thuộc dãy hành tinh này. Định luật luân phiên hoạt động và yên nghỉ tác động phổ biến khắp nơi trong vũ trụ, đối với trọn cả càn khôn cho dù ta không thể tưởng tượng nỗi những thời kỳ dài dằng dặc thì chu kỳ hoại không phải nối tiếp chu kỳ thành trụ, còn chu kỳ thành trụ lại nối tiếp chu kỳ hoại không.
Người ta có thể hỏi cái sự nối tiếp liên tục này có mục đích gì? Tốt hơn là ta nên hạn chế câu hỏi này vào chỉ một thái dương hệ thôi, và thắc mắc xem vì mục đích gì mà tinh vân nguyên thủy lại được sắp xếp thành ra các xoáy lực tạo thành các hành tinh tiến hóa rồi phát triển các thế giới để cho tinh thần vũ trụ khi vang vọng qua vật chất trong các thế giới đó sẽ tạo ra hình hài và sự sống, cũng như các trạng thái vật chất cao siêu nơi cái mà chúng ta gọi là sự sống nội giới hoặc sự sống tinh thần. Chắc chắn là có một cứu cánh đủ để thỏa mãn bất kỳ đầu óc có lý trí nào theo đó bản thân các Chơn linh Hành tinh bước vào tồn tại sống một cuộc đời có ý thức với sự tri giác và phúc lạc tối cao trải qua các viễn ảnh thời gian tương đương với tất cả những gì mà ta có thể tưởng tượng được về thời gian vĩnh hằng. Mọi sinh linh rốt cuộc đều có cơ hội thâm nhập vào sự vĩ đại khôn tả này. Tinh thần vốn ngự nơi mọi hình tướng sinh linh và tạo nên những hình tướng này từ những hình tướng mà ta thường gọi là vô tri vô giác. Dần dần thì sự tiến bộ vẫn chắc chắn tiến lên cho tới khi nó ảnh hưởng không mệt mỏi tới vật chất để tiến hóa ra thành hồn người. Ta không được suy ra rằng loài cây cỏ và động vật sống xung quanh chúng ta có bất kỳ nguyên khí nào đã tiến hóa cho đến nay đủ để chúng có một hình tướng của con người trong quá trình thành trụ hiện nay; nhưng mặc dù diễn trình của một sự tiến hóa bất toàn có thể bị ngưng lại do thời kỳ yên nghỉ của thiên nhiên, thì nó cũng không hề bị hoại diệt. Rốt cuộc thì mọi chơn thần (vốn dĩ là nguyên khí vô thức và vô nhiễm) sẽ hoạt động thông qua những hình tướng có ý thức trên các cõi thấp cho tới khi những sinh linh này lần lượt vứt bỏ những hình tướng càng ngày càng cao cấp hơn để rồi tạo ra cái hình tướng trong đó tâm thức giống như Thượng Đế có thể hoạt động được viên mãn. Chắc chắn là không phải bởi vì quan niệm của con người chỉ có thể biết được những sự cao cả thỏa đáng dành cho kiếp sống trong vũ trụ mà chính vì y dường như chỉ thành đạt được một mục đích chưa đầy đủ, thậm chí nếu số phận tối hậu của chính đấng Chơn linh Hành tinh sau những thời kỳ phát triển từ các hình tướng của loài khoáng vật vào thời kỳ có các thế giới nguyên sơ, nếu qua ký ức của con người đó chỉ là một thời kỳ ấu trĩ, thì việc ngài hòa nhập chơn ngã vinh quang của mình vào cái tổng thể của toàn thể tâm thức mà khoa siêu hình học bí truyền gọi là tâm thức tuyệt đối, thì nó lại chính là vô thức. Những cách diễn tả nghịch lý này chỉ là phương tiện để biểu diễn những ý tưởng mà tâm trí con người không thể hiểu nổi cho nên ta cũng chẳng mất thời giờ mà so kè về chúng làm chi.
Những nhận xét nêu trên đã cung cấp cho ta mấu chốt Phật giáo bí truyền, nó là kết quả trực tiếp của giáo lý bí truyền đại đồng vũ trụ so với bất kỳ tôn giáo bình dân nào khác. Giáo lý này nỗ lực xây dựng để khiến cho con người yêu thích đức hạnh vì đức hạnh, do đức hạnh có ảnh hưởng tốt tới kiếp sống tương lai của mình, chứ giáo lý không khiến cho ngưởi ta nô lệ một hệ thống hoặc giáo điều nào của giới tu sĩ bằng cách khủng bố óc tưởng tượng của họ qua một giáo lý về thập điện diêm vương đang chờ đón họ bên kia cửa tử để tra khảo. Cho dù ông Lillie có ý định rất đáng khâm phục thì ông vẫn nhầm lẫn và mặc dù rõ ràng là ông có thiện cảm với phần đạo đức đẹp đẽ cũng như hoài bão của Phật giáo thì ông vẫn sai lầm khi suy diễn ra khái niệm về một Thượng Đế nhân hình xuất phát từ những nghi lễ trong chùa chiền. Một khái niệm như thế không thể thâm nhập giáo lý bí truyền cao cả của Thiên nhiên mà quyển sách này chỉ phác họa một cách bất toàn. Thậm chí khi đề cập tới những vùng xa xôi nhất bao la bát ngát vượt quá hành tinh hệ chúng ta thì bậc cao đồ tiêu biểu cho giáo lý bí truyền cũng dung thứ được một thái độ bất khả tri. Ngài có thể chỉ cần nói rằng: “Trong phạm vi những giác quan cao siêu của các Chơn linh Hành tinh mà sự trực kiến vươn rộng ra tới những giới hạn ngoài rìa nhất của tinh cầu thì trong mức độ mà tầm nhìn của các ngài có thể bao quát được Thiên nhiên vẫn tự túc; còn về phần những gì vượt ngoài mức độ đó thì chúng tôi không đưa ra một giả thuyết nào.” Bậc cao đồ thật sự có ý muốn nói rằng: “Vũ trụ thật là vô biên và thật là một sự lố bịch của tư tưởng khi nói tới bất kỳ giả thuyết nào vượt ngoài tầm điều vô biên đó, ở phía bên kia giới hạn của điều vô hạn.”
Những gì xảy ra trước mọi sự biểu lộ của vũ trụ và vượt ngoài tầm giới hạn của sự biểu lộ (nếu những sự biểu lộ đó có thể xảy ra) thì điều đó là nền tảng của vũ trụ biểu lộ trong phạm vi tri kiến của chính chúng ta, đó là vật chất được làm cho linh hoạt do sự vận động, tức là Parabrahman hoặc Tinh thần của nó. Vật chất, không gian, vận động và kỳ gian cấu thành cùng một bản chất vĩnh hằng của vũ trụ nhất như. Không điều gì khác tuyệt đối vĩnh hằng. Điều gì vốn là trạng thái bản sơ của vật chất thì chính nó cũng không hoàn toàn có thể dùng giác quan cõi trần mà nhận biết được; các giác quan này chỉ liên quan tới vật chất đã biểu lộ vốn là một trạng thái khác hẳn. Như vậy mặc dù theo một ý nghĩa nào đó của từ ngữ duy vật (bất kỳ độc già nào theo dõi những lời giải thích nêu trên cũng sẽ nhận thấy điều này), thì giáo lý bí truyền cũng chẳng giống chút nào với cái quan niệm thô thiển hẹp hòi về Thiên nhiên mà người ta thường gán cho tên gọi là Thuyết Duy Vật, giáo lý bí truyền khác thuyết này cũng giống như Cực Bắc khác với Cực Nam. Có thể nói là nó hạ cố xuống Thuyết Duy Vật và liên kết những phương pháp của nó với khoa luận lý của hệ thống này rồi lại thăng cao lên tới những cõi cao hơn của thuyết duy tâm để bao quát và xiển dương những hoài bão siêu việt nhất của Tinh thần. Ta không thể cứ nhắc đi nhắc lại một cách thành khẩn giáo lý bí truyền là sự hiệp nhất của Khoa học với Tôn giáo, là cái cầu mà những người theo đuổi tri thức thực nghiệm một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể bắc ngang qua vươn tới người sùng tín nhiệt thành nhất, nhờ đó kẻ sùng tín nhiệt thành nhất có thể trở lại Thế gian mà vẫn còn biểu lộ được Thiên đường tại thế.