17/6/14

Phật giáo bí truyền – Thông Thiên Học (Kỳ 6): Kama loka

Những phát biểu mà ta vừa nêu ra liên quan tới số phận của các nguyên khí cao của con người vào lúc chết sẽ dọn đường cho việc ta hiểu được hoàn cảnh của những tàn tích của các nguyên khí thấp sau khi Chơn ngã hoặc là đã nhập vào trạng thái Devachan, hoặc là đã chuyển sang thời kỳ vô ý thức trung gian để chuẩn bị nhập Devachan, vốn tương ứng với thời kỳ thai nghén trên cõi trần. Cái cõi mà những tàn tích nêu trên vẫn còn ở lại trong một thời gian được khoa huyền bí học gọi là Kama loka, dục giới, không phải là cái vùng mà trong đó dục vọng được phát triển mạnh tới mức một cách bất bình thường khi so sánh với dục vọng lúc còn bám vào cuộc sống trên cõi trần, mà là cái cõi trong đó cảm giác ham muốn (vốn là một phần của kiếp sống trên cõi trần) có thể vẫn còn sống còn được.
Từ những điều mà ta đã nói về Devachan ta ắt thấy rõ rằng phần lớn những hoài niệm tích lũy chung quanh Bản ngã con người trong buổi sinh thời vốn không tương thích với kiếp sống nội giới thuần túy mà chơn ngã trường tồn tâm linh ắt phải trải qua; nhưng không vì lý do đó mà chúng tất yếu phải bị tiêu diệt hoặc bị tàn lụi đi dễ dàng. Chúng vốn có sẵn nơi một vài phân tử của những nguyên khí tinh vi (nhưng không phải là tinh vi nhất) vốn thoát ra khỏi cái xác vào lúc chết; cũng như sự tan rã sẽ tách rời cái mà ta gọi một cách đại khái là phần hồn tách rời khỏi phần xác thì cũng vậy, sự tan rã sẽ làm cho sự phân ly thêm nữa các thành phần cấu tạo nên phần hồn. Có rất nhiều phần của nguyên khí thứ năm tức hồn người có bản chất hấp thu được nguyên khí thứ sáu tức hồn thiêng, sẽ thăng lên với hồn thiêng đó để cùng với cái mầm mống của nó nhập vào cõi cao siêu tức là trạng thái Devachan, trong trạng thái này nó hầu như hoàn toàn cách ly khỏi sức hút của trần thế. Diễn trình này là hoàn toàn xét về quá trình tâm linh của nó, mặc dù nó vẫn còn có một vài ái lực đối với những hoài bão tâm linh xuất phát từ cõi trần và đôi khi nó có thể bị hoài bão này thu hút. Nhưng hồn thú tức nguyên khí thứ tư (yếu tố ý chí và dục vọng kết hợp với kiếp sống nơi ngoại giới) không bị hút lên trên và nó không cách ly khỏi được trần thế chẳng khác nào những phần tử của cái xác bị ký thác cho nấm mồ. Tuy nhiên cái nguyên khí thứ tư này có thể rời xa được nấm mồ. Nó có bản chất và ái lực không thuộc về tâm linh nhưng bản chất của nó cũng không thuộc về vật thể. Nó chỉ có ái lực với vật thể cho nên mới xảy ra kết quả như sau. Nó vẫn còn ở trong sức hút cục bộ trên cõi trần có thực của trái đất tức là bầu khí quyển của trái đất, nhưng vì nó không phải là chất khí của bầu khí quyển này (trong trường hợp đặc biệt mà ta đang xét hiện nay) cho nên nó ở Kama loka.
Đối với nguyên khí thứ tư thì phần lớn vẫn còn nguyên vẹn (rất tiếc là hầu hết loài người đều như vậy mặc dù xét về mức độ rộng lớn tương đối thì tỉ lệ thay đổi rất nhiều). Có nhiều thuộc tính mà con người bình thường biểu lộ ra nhiều xúc cảm nhiệt thành, nhiều dục vọng và hành vi và cả đống những hồi ức, cho dù không dính dáng gì tới một cuộc đời đầy nhiệt tình của những kẻ đã hiến mình cho hoài bão cao siêu, tuy nhiên chúng vẫn có bản chất thuộc về đời sống của cõi trần và phải mất thời gian thì mới chết đi được. Chúng vẫn còn lẩn quẩn và liên kết với nguyên khí thứ tư, vốn hoàn toàn có bản chất trần tục và sẽ bị tiêu diệt để rồi tan biến đi hoặc bị hấp thu vào những nguyên khí tương ứng nơi vũ trụ, cũng giống như cái xác sẽ bị hấp thu vào trong lòng đất khi thời gian trôi qua dù nhanh hay chậm, tỉ lệ với việc nó bám víu vào vật chất. Thế trong khi đó, tâm thức của người đã chết hoặc phân hủy ở đâu vậy? Chắc chắn là ở nơi Devachan, nhưng đối với tâm trí nào không lão luyện về khoa học huyền bí thì có một điều khó hiểu do sự kiện là có một điều gì đó giống như tâm thức vốn cố hữu nơi phần tinh vi (tức là nguyên khí thứ tư cộng với một phần nguyên khí thứ năm) còn lẩn quẩn nơi Kama loka. Người ta lập luận rằng tâm thức của cá nhân không thể ở hai nơi cùng một lúc. Nhưng trước hết, trong một chừng mực nào đó thì nó có thể ở được. Hiện nay ta có thể nhận thấy rằng thật là sai lầm khi nói tới tâm thức (theo như ta hiểu về cảm xúc sống động) gắn liền với cái ma hình tàn tích đó; tuy nhiên một biểu lộ giả tạo nào đó về tâm thức có thể được khơi động trở lại nơi ma hình, tuyệt nhiên không liên quan tới cái tâm thức thực sự trong lúc đó đang trở nên mạnh mẽ hơn và sinh động hơn trong thế giới tâm linh. Cái ma hình đó không có năng lực hấp thu và tiếp nhận những ý tưởng mới cũng như phát khởi những đường lối hành động dựa theo những ý tưởng mới nêu trên. Nhưng trong ma hình đó vẫn có sự sống còn những xung lực ý chí được cấp cho nó trong buổi sinh thời. Nguyên khí thứ tư là công cụ của ý chí, mặc dù bản thân nó không phải là ý chí, và những xung lực mà các nguyên khí cao cấp cho nó trong buổi sinh thời có thể chạy tiếp cái đà đó và tạo ra những kết quả hầu như là không thể phân biệt được (nếu người quan sát vô ý vô tứ) với những xung lực sẽ xảy ra nếu bốn nguyên khí cao vẫn còn thực sự liên kết với nhau giống như khi còn sống.
Nguyên khi thứ tư là hiện thể trong buổi sinh thời của cái tâm thức vốn có bản chất là phải chết cho nên không thể thích ứng với tình trạng sống mãi. Nhưng tâm thức, ngay cả những nguyên khí thấp trong khi còn sống là một điều khác hẳn với cái tâm thức mơ hồ, phù du và bấp bênh vốn tiếp tục cố hữu nơi chúng do thấm nhuần linh hồn làm cho chúng linh hoạt. Ngôn ngữ không thể diễn tả mọi khía cạnh của một ý tưởng đa diện mà ta có thể hiểu được ngay một lúc, cũng như một bức vẽ đơn giản không thể cho thấy mọi phương diện của một vật thể rắn chắc. Khi thoạt nhìn những bức vẽ khác nhau của cùng một vật thể được quan sát từ nhiều phương diện khác nhau thì ta dường như thấy chúng không giống nhau và không thể nhận ra được; tuy nhiên khi ta kết hợp chúng lại trong tâm trí thì những sự đa dạng này lại tỏ ra là hài hòa. Đối với những thuộc tính tinh vi của các nguyên khí vô hình của con người thì cũng vậy; không một pho khảo luận nào có thể làm gì được hơn là bàn riêng rẽ về những khía cạnh khác nhau của chúng. Đủ thứ quan điểm gợi ra phải trộn lẫn vào nhau trong tâm trí của người đọc trước khi khái niệm hoàn chỉnh tương ứng được với các thực tại trong Thiên nhiên.
Trong buổi sinh thời, nguyên khí thứ tư là trú sở của ý chí và dục vọng, nhưng nó không phải là bản thân của ý chí. Nó phải sống động, hiệp nhất với tinh thần phù hộ nó tức là “sự sống nhất như” để làm tác nhân cho cái chức năng rất cao siêu của sự sống, đó là ý chí với mãnh lực cao siêu. Ta đã đề cập tới việc các tên gọi bằng tiếng Phạn của các nguyên khí cao siêu hàm ý chúng là các hiện thể của sự sống nhất như. Sự sống nhất như đó không phải chính là một nguyên khí có thể tách rời ra từng phần tử mà là sự hiệp nhất của tất cả những thứ trên, là ảnh hưởng của tinh thần, nhưng thật ra ý niệm này rất tế nhị cho nên ngôn ngữ và có lẽ cả trí năng nữa cũng không bao quát được. Tuy nhiên trong trường hợp hiện nay thì sự biểu lộ của nó cũng tương đối rõ rệt. Cho dù nguyên khí ý chí thứ tư có thể là gì đi nữa khi còn sống thì khi đã chết rồi, nó không còn có thể là ý chí chủ động nữa. Nhưng thế thì trong một vài hoàn cảnh bất thường, nó có thể phục hồi lại sinh hoạt của mình một phần nào trong một lúc nào đó, và sự kiện này ắt giải thích được nhiều (mặc dù không phải là tất cả) hiện tượng đồng cốt của phong trào thần linh học.
Nên nhớ rằng “âm ma” (trong các tác phẩm thời xưa người ta thường gọi ma hình như vậy) có thể được khơi hoạt trong một lúc nào đó do tác dụng của môi trường đồng cốt để có được một trạng thái ý thức và sinh hoạt. Điều này có thể được gợi ý qua tình trạng sơ khởi của một người khi được khiên vào một cái buồng xa lạ trong tình trạng mất ý thức lúc đau ốm, thì khi tỉnh dậy y cảm thấy mình yếu ớt, tâm trí hồ đồ, nhìn dáo dác xung quanh với một xúc cảm thẩn thờ bối rối, ghi nhận được những ấn tượng, nghe được những lời người ta nói với mình và trả lời một cách lờ mờ. Một trạng thái tâm thức như thế không gắn liền với ý niệm về quá khứ và tương lai. Đó là một tâm thức tự động rút tỉa từ người đồng tử. Nên nhớ rằng người đồng tử là một người có những nguyên khí kết hợp với nhau một cách lỏng lẻo và có thể bị những thực thể khác hoặc những nguyên khí trôi nổi khác vay mượn vì có sức hút đối với một số hoặc bộ phận của những thực thể này. Thế thì trong trường hợp một ma hình bị thu hút vào vùng lân cận của một người có cấu tạo như thế, điều gì sẽ xảy ra? Giả sử người đã vứt bỏ cái ma hình đó bị chết khi vẫn còn một mong muốn mạnh mẽ nào đó chưa được thỏa mãn, không nhất thiết là thuộc loại ô uế, nhưng hoàn toàn chỉ dính dáng tới cuộc sống trên cõi trần, chẳng hạn như mong muốn trao truyền một sự kiện nào đó cho một người còn sống. Chắc chắn là ma hình không đi lang thang trong Kama loka với một chủ đích hữu thức thông tuệ và kiên trì nhằm truyền đạt sự kiện này; tuy nhiên xung lực ý chí để làm điều đó đã ngấm vào nguyên khí thứ tư và trong khi những phần tử của nguyên khí này vẫn còn liên kết với nhau (điều này có thể kéo dài nhiều năm) thì chúng chỉ cần được khơi hoạt một phần để linh hoạt trở lại cũng đủ tác động theo chiều hướng của xung lực nguyên thủy. Khi một ma hình như thế tiếp xúc với một đồng tử theo kiểu ngưu tầm ngưu mã tầm mã nếu chúng không có những bản chất tương kị với nhau quá nhiều, thì một điều gì đó trong nguyên khí thứ năm của người đồng tử sẽ liên kết với nguyên khí thứ tư đang đi lang thang để cho xung lực nguyên thủy bắt đầu tác động. Biết bao nhiêu ý thức và trí thông minh đã được vay mượn từ người đồng tử để giữ cho nguyên khí thứ tư sử dụng được những phương tiện truyền thông có sẵn ngay tầm tay (một tấm bảng và cây bút chì và một cái bàn để gõ lên đó), thế là thông điệp được trao truyền có thể chính là cái thông điệp mà người quá cố thoạt đầu đã ra lệnh cho nguyên khí thứ tư của mình phải trao truyền mà cho đến lúc đó ma hình còn chưa có dịp thực hiện. Người ta có thể lập luận rằng việc viết được chữ trên một tấm bảng bị niêm kín hoặc gõ lên một cái bàn mà không dùng tới lóng tay hoặc một cây gậy thì bản thân nó cũng là một kỳ tích của thiên nhiên mầu nhiệm, bộc lộ ra việc cái trí thông tuệ muốn liên lạc đó có biết được những quyền năng trong Thiên nhiên mà chúng ta chẳng biết gì khi còn sống trên cõi trần. Nhưng bản thân ma hình đang ở trong cõi trung giới vốn là địa hạt của những quyền năng như thế. Một sự biểu lộ giống như phép lạ là cách sinh hoạt tự nhiên của nó. Khi sử dụng các quyền năng mới mẻ hoạch đắc được ở một cõi tồn tại cao hơn, nó chẳng hề có ý thức là mình đã tạo ra được một kết quả kỳ diệu, cũng giống như khi còn sống chúng ta không hề có ý thức về những lực gây ra xung lực ý chí có thể truyền được tới các dây thần kinh và cơ bắp.
Nhưng người ta có thể phản đối rằng cái “sinh linh thông minh đang liên lạc” đó trong một buổi lên đồng cứ thường xuyên tạo ra những kỳ tích đáng kể chỉ để bộc lộ quyền năng đối với những lực trong thiên nhiên mà nó có được. Tuy nhiên, xin độc giả làm ơn nhớ cho rằng khoa học huyền bí đâu có bảo rằng mọi hiện tượng thần linh học đều có nguồn gốc nơi một loạt tác nhân. Cho tới nay, trong khảo luận này, người ta ít nói tới các “tinh linh ngũ hành”, những tạo vật bán thông minh trong tinh tú quang, chúng thuộc về một giới khác hẳn với chúng ta trong Thiên nhiên. Hiện nay ta không thể nói dài dòng về những thuộc tính của chúng vì lý do giản dị và hiển nhiên là tri thức liên quan tới các tinh linh ngũ hành, việc biết tỉ mỉ về đề tài này liên quan tới cách chúng hoạt động đã được các vị cao đồ huyền bí học giấu kín. Nếu có được tri thức đó thì sẽ vận dụng được quyền năng và trọn cả động cơ thúc đẩy khoa học huyền bí phải giữ bí mật chính là vì nguy cơ sẽ trao lại quyền năng cho những người vốn không được trải qua rèn luyện để trở thành điểm đạo đồ trước khi có được những bảo đảm về mặt đạo đức là mình đáng tin cậy. Chính nhờ việc điều khiển các tinh linh ngũ hành mà các bậc cao đồ đã hoàn thành được những kỳ tích vĩ đại nhất trên cõi trần, và do những hành vi đùa nghịch tự phát của những tinh linh ngũ hành mà các hiện tượng vĩ đại nhất đã được tạo ra trên cõi trần trong buổi lên đồng. Cũng giống như vậy, hầu hết mọi vị fakir ở Ấn Độ và các đạo sĩ yoga thuộc cấp thấp mới có được quyền năng tạo ra những kết quả giống như phép lạ. Bằng một phương cách nào đó, rất có thể là được truyền thừa một mẩu giáo lý huyền bí nên họ đã làm chủ được một mẩu khoa học huyền bí. Tất nhiên họ có thể không hiểu được tác động của những lực mà họ đang vận dụng, cũng giống như một người công nhân Ấn Độ trong một trạm điện báo được dạy pha trộn các chất cấu tạo nên thứ chất lỏng được dùng trong bộ ắc quy điện mà không hiểu gì về lý thuyết của khoa điện học. Y có thể hoàn thành được cái thao tác mà người ta dạy cho y, vị đạo sĩ yoga cấp thấp cũng giống như vậy. Y đã ảnh hưởng lên được một vài tinh linh ngũ hành và có thể tạo ra được một vài phép lạ.
Ta hãy quay lại xem xét những ma hình trước kia là con người bây giờ đang ở Kama loka, người ta có thể lập luận rằng cái cách ứng xử của chúng trong phòng lên đồng không được bao quát trong cái thuyết theo đó chúng có một thông điệp nào đó do người chủ đã quá cố muốn trao truyền lại, và đã dùng người đồng tử có mặt để trao truyền lại thông điệp đó. Ngoại trừ những hiện tượng phép lạ mà ta có thể gác sang một bên coi đó là trò nghịch ngợm của các tinh linh ngũ hành, đôi khi ta vẫn gặp một loại âm ma hoặc ma hình có được sự liên tục thông minh chứng tỏ rằng đó không phải chỉ là sự sống còn của những xung lực thuộc kiếp sống trước kia. Đúng vậy, nhưng khi được truyền thêm một phần nguyên khí thứ năm của người đồng tử thì một lần nữa người chủ cũ lại có được trong tay cái công cụ của mình là nguyên khí thứ tư. Đối với trường hợp một người đồng tử xuất thần đến mức mà năng lượng của nguyên khí thứ năm được truyền phần lớn cho cái ma hình đang lang thang thì kết quả là ma hình tạm thời có được một sự phục hồi ý thức rất đáng kể ngay vào giây phút đó. Nhưng xét cho cùng thì bản chất của ý thức đó là gì? Thật ra thì chẳng có gì khác hơn là một ánh sáng được phản chiếu. Trí nhớ là một chuyện, còn năng lực nhận thức lại là chuyện khác. Một người điên có thể nhớ rất rõ một quãng đời nào đó trong kiếp sống vừa qua của mình; thế nhưng y không thể nhận thức được điều gì một cách đúng sự thật, vì bộ phận cao siêu của nguyên khí thứ năm Manas và nguyên khí thứ sáu Buddhi đã bị tê liệt và rời bỏ y. Nếu một con thú (chẳng hạn như một con chó) có thể nói được, thì nó có thể chứng tỏ rằng trí nhớ của nó liên quan tới cái thân phận chó của mình cũng mới mẻ như cái trí nhớ của ông chủ của nó; tuy nhiên ta không thể gọi trí nhớ và bản năng của nó là năng lực nhận thức.
Một khi mà ma hình nhập vào được hào quang của người đồng tử, thì ma hình có thể nhận thức được tương đối rõ ràng bất cứ điều gì mà y có thể nhận thức được thông qua những nguyên khí vay mượn từ người đồng tử và thông qua những cơ quan đồng cảm về mặt từ điện với các nguyên khí vay mượn đó. Nhưng điều này không thể giúp cho y vượt xa hơn được tầm mức của năng lực nhận thức nơi người đồng tử hoặc bất cứ người nào khác đang hiện diện trong buổi lên đồng. Vì thế cho nên y có thể đưa ra những lời giải đáp thường thường là hợp lý và đôi khi rất thông minh; cũng vì thế y bao giờ cũng quên bén đi mất mọi điều mà người đồng tử hoặc nhóm lên đồng không hề biết, hoặc không có trong những hồi ức cấp thấp của phàm ngã đã quá cố, được phục hồi trở lại do ảnh hưởng mà y đang phải trải qua. Ma hình của một người rất thông minh, bác học, nhưng hoàn toàn không có xu hướng tâm linh và chết một cái chết tự nhiên thì sẽ tồn tại lâu hơn ma hình của những người có tính khí bạc nhược và cái bóng phản chiếu trí nhớ của chính y sẽ giúp cho y có thể thông qua miệng của người đang xuất thần thốt ra được những bài thuyết pháp thuộc loại không tầm thường. Nhưng những bài thuyết pháp này chẳng bao giờ liên quan tới bất cứ điều gì không nằm trong những đề tài mà y đã suy gẫm rất nhiều và thành khẩn trong buổi sinh thời, bất cứ một lời nào do y thốt ra cũng không hề biểu thị việc y đã thực sự hiểu biết nhiều hơn.
Ta ắt dễ dàng thấy rằng khi bị thu hút vào hào quang của người đồng tử để tương giao với nguyên khí thứ năm của người đồng tử đó thì ma hình tuyệt nhiên không có gì bảo đảm là sẽ được cấp năng lượng để có một tâm thức (ngay cả trường hợp là tâm thức đó có giá trị) đồng nhất với tâm thức của phàm ngã người quá cố vốn đã bị rơi rụng mất những nguyên khí cao siêu. Nó giống như việc phản ánh một phàm ngã khác hẳn nào đó bị nhận vơ do gợi ý trong tâm trí của người đồng tử. Có lẽ nó sẽ đóng vai phàm ngã này trong một lúc để trả lời những câu hỏi, thế rồi khi một luồng tư tưởng mới mẻ nào đó nhập vào tâm trí của những người đang có mặt mà tìm được tiếng vọng nơi những ấn tượng phù du của ma hình đó thì ý thức về thân thế của y bắt đầu bị dao động; có một lúc y chập chờn giữa hai ba phương án để rồi kết cục hoàn toàn xuất ra khỏi cái xác trong một lúc nào đó. Thế là một lần nữa ma hình lại ngủ yên trong ánh sáng tinh tú và có thể trôi giạt một cách vô ý thức tới tận đầu bên kia quả đất chỉ trong ít giây phút thôi.
Ngoài những ma hình thuộc loại nêu trên, Kama loka còn là nơi chốn của một loại thực thể trung giới khác mà ta phải xét đến nếu ta muốn hiểu thấu những tình huống khác nhau mà con người phải trải qua bên kia cửa tử. Cho đến nay, chúng ta đã xem xét tiến trình diễn biến bình thường khi người ta chết một cách tự nhiên. Nhưng một cái chết bất thường ắt gây ra những hậu quả bất thường. Vậy là trong trường hợp những người tự tử thì kết quả sẽ khác hẳn những người chết tự nhiên. Thật vậy, việc xem xét cẩn thận những trường hợp như thế ắt cho ta thấy rằng trong một thế giới được quản trị theo những qui tắc và luật lệ do những ái lực được thể hiện ra những hậu quả chính qui theo kiểu dứt khoát mà Thiên nhiên thường ưu đãi, thì trong trường hợp một người chết bất đắc kỳ tử, vào lúc mà mọi nguyên khí của y vẫn còn kết hợp bền vững với nhau và sẵn sàng kết hợp như vậy trong 20 – 40 hoặc 60 năm nữa, cho dù phần còn lại trong cuộc đời nếu sống theo tự nhiên của y có ra sao đi chăng nữa; cái chết này chắc chắn là phải khác cái chết của một người do những quá trình tự nhiên của tuổi già, thì khi cái bộ máy sinh hoạt đã ngừng hoạt động, y thấy mình tách ra khỏi đủ thứ nguyên khí, và mạnh nguyên khí nào nguyên khí nấy đều sẵn sàng đi theo con đường riêng của mình. Thiên nhiên vốn luôn luôn có nhiều điều tương tự phong phú sẽ minh họa ngay cho ý tưởng này qua ví dụ về trái cây đã chín muồi và trái cây chưa chín còn xanh. Cái hột của trái cây đã chín muồi sẽ tróc ra khỏi trái cây đó một cách sạch sẽ và dễ dàng cũng giống như một bàn tay rút ra khỏi cái găng tay, còn cái hột của trái cây còn xanh chỉ có thể tróc ra khỏi trái cây này một cách khó khăn với những lớp thịt trái cây còn bám lởm chởm trên bề mặt của hột. Vậy thì trong trường hợp bất đắc kỳ tử hoặc tự tử, ta thấy tương tự như hột trái cây bị tróc ra khỏi trái cây còn xanh. Ở đây không có vấn đề khiển trách về mặt đạo đức đối với hành vi tự tử. Có lẽ, trong đa số trường hợp sự khiển trách đạo đức như thế ắt xảy ra, nhưng đây vốn là vấn đề Nghiệp báo sẽ đeo đuổi theo người này trong kiếp tái sinh sắp tới cũng giống như bất kỳ Nghiệp báo nào khác, và nó chẳng dính dáng gì tới khó khăn ngay trước mắt mà người này phải trải qua khi thấy mình đã chết hẳn. Khó khăn này hiển nhiên là giống hệt như nhau cho dù một người tự tử hoặc khi bị giết chết do thi hành bổn phận của một anh hùng hoặc là nạn nhân của một tai nạn mà y không kiểm soát được.
Theo lệ thường thì khi một người chết đi cái khoản mục dài dằng dặc về Nghiệp báo tự nhiên là sẽ chấm dứt, nghĩa là cái phức hợp những ái lực vốn đã được lập nên trong buổi sinh thời tụ tập nơi cái nguyên khí đầu tiên tương đối trường cửu (nguyên khí thứ năm) không còn phải mở rộng ra nữa. Có thể nói là các bảng cân đối Nghiệp báo sẽ được thực hiện sau khi đã đến lúc tái sinh ra ngoại giới trong kiếp tới; nói cách khác, các ái lực này sẽ ngủ yên giấc nơi Devachan vì ở đó không có cái môi trường để cho chúng tác động, cho nên chúng chỉ khẳng định được trở lại ngay khi một lần nữa chúng tiếp xúc được với sự sống trên cõi trần. Nhưng trong trường hợp người chết không đúng số thì nguyên khí thứ năm (các ái lực này vốn được phát triển nơi nguyên khí đó) không thể tách rời khỏi nguyên khí nhiễm trần, tức nguyên khí thứ tư. Vì vậy, âm ma khi thấy mình hiện diện trên Kama loka do bị thô bạo trục xuất ra khỏi thể xác đâu phải chỉ là một ma hình; nó chính là cái người vừa mới đây vẫn còn sống thế mà bây giờ đã mất xác. Theo đúng nghĩa của từ ngữ này thì nó chẳng hề chết.
Chắc chắn là các âm ma thuộc loại này có thể truyền thông một cách hữu hiệu trong những buổi lên đồng mặc dù gây thiệt hại nặng nề cho chính mình; đó là vì đáng tiếc thay do cấu tạo vô hình vẫn còn hoàn chỉnh, cho nên họ có thể tiếp tục gây ra Nghiệp để làm nguôi ngoai khát vọng sống của mình do động cơ thúc đẩy không lành mạnh của thuật đồng cốt. Nếu buổi sinh thời họ thuộc một loại người rất duy vật và tham dục thì những sự hưởng thụ mà họ mưu tìm sẽ thuộc một loại buông thả, trong tình trạng đã mất xác thì ta có thể dễ dàng quan niệm được rằng sự buông thả đó thậm chí còn có hại cho Nghiệp của họ hơn sự buông thả tương tự nếu họ còn sống. Trong những trường hợp như thế, họ rất dễ bị sa đọa. Vì bị cắt đứt khỏi dòng sống trong khi còn tràn đầy nhựa sống với những đam mê trần thế trói buộc họ vào những khung cảnh quen thuộc, cho nên họ bị cám dỗ bởi những cơ hội mà người đồng cốt đưa ra để thỏa mãn những đam mê này một cách ký sinh. Họ trở thành những con yêu râu xanh trong tác phẩm thời trung cổ, loài ngạ quỉ xúi giục nạn nhân của mình gây ra tội ác. Có một tiểu luận ngắn về đề tài này mà tôi viết năm ngoái; tôi đã sao chép lại một số câu vừa nêu trên từ bản tiểu luận đó, vốn được đăng tải trong tạp chí Nhà Thông Thiên Học kèm theo một chú giải mà tôi có lý do để tin vào sự trung thực của nó; tôi xin sao y nguyên bản chú giải này như sau:
“Các trạng thái sau khi chết có lẽ còn đa dạng hơn các trạng thái của con người khi còn sống trên trần thế. Những người bất đắc kỳ tử thường không lẩn quẩn nơi trần thế, chỉ những người nào bị thu hút vào trần thế khi họ chết mà còn có một nỗi đam mê trần tục thô trược làm bận tâm mình, họ là những người ích kỷ chẳng bao giờ biết tới hạnh phúc của người khác. Vì bị chết mà chưa thỏa mãn được (cho dù thỏa mãn thực hay chỉ thỏa mãn trong óc tưởng tượng) một đam mê chủ yếu nào đó trong cuộc đời, cho nên lòng ham muốn vẫn còn chưa thỏa mãn ngay cả sau khi đã được thực hiện hết rồi và họ cứ khao khát thêm mãi, những phàm ngã như thế chẳng bao giờ có thể vượt qua được sức hút của trần thế để chờ đợi tới giờ được giải thoát một cách êm đềm trong vô thức và lãng quên hoàn toàn. Trong số những người tự tử mà phát biểu nêu trên có nói tới việc họ xúi giục nạn nhân của mình phạm tội ác v. v. . . thì có một loại người tự tử do hậu quả của việc mình đã phạm tội ác để trốn tránh hình phạt trong luật pháp của loài người hoặc do mình đâm ra hối hận. Luật Thiên nhiên không thể không trừng phạt; mối quan hệ nhân quả khắc khe giữa tác động và hậu quả chỉ được thể hiện trọn vẹn trong thế giới của các hậu quả tức là Kama loka, và ở đó mọi trường hợp đều bị trừng phạt thỏa đáng theo cả ngàn cách khác nhau mà ta cần phải có những bộ sách mới đủ để mô tả chúng một cách phơn phớt thôi.”
Những người “chờ tới giờ được giải thoát một cách êm đềm trong vô thức và lãng quên trọn vẹn”, dĩ nhiên là những người bị bất đắc kỳ tử, nhưng trên trần thế đã tạo nên những ái lực thanh tịnh và cao thượng. Vì vậy sau khi chết đi họ đã vượt khỏi tầm cám dỗ của hào quang đồng cốt cho nên họ không thể tiếp cận với cuộc đời để xúi giục người ta làm tội ác như thông thường.
Ta còn phải xét tới một loại thực thể khác đôi khi có mặt ở Kama loka. Ta đã theo dõi những nguyên khí cao của những người vừa mới chết, đã quan sát sự chia ly của những tàn tích tinh vi đối với phần trường cửu về mặt tâm linh; phần trường cửu về mặt tâm linh này có bản chất hoặc là thánh thiện hoặc là quỉ quái và tùy theo đó được sắp xếp vào Devachan hay là A tỳ. Chúng ta đã khảo sát bản chất của ma hình bị vứt bỏ và trong một lúc nào đó vẫn còn bảo tồn được cái sự phảng phất hư ảo giống như một thực thể; chúng ta cũng đã quan tâm tới những trường hợp đặc biệt các sinh linh thực sự còn đủ bốn nguyên khí nơi Kama loka, họ vốn là những người bị bất đắc kỳ tử hay tự tử. Nhưng điều gì sẽ xảy ra cho một phàm ngã hoàn toàn không có một nguyên tử tính linh, không có một dấu vết ái lực tâm linh nào nơi nguyên khí thứ năm, cho dù thuộc loại tốt hay loại xấu? Rõ ràng là trong trường hợp như thế thì nguyên khí thứ sáu chẳng có gì để thu hút về mình. Hoặc nói cách khác thì một phàm ngã như thế bị mất nguyên khí thứ sáu rồi ngay vào lúc nó bị chết. Nhưng Kama loka cũng đâu phải là nơi tồn tại dành cho một phàm ngã như thế với tư cách là một nội giới; Kama loka có thể là nơi thường trú của những thực thể tinh anh của những tinh linh ngũ hành, nhưng nó chỉ có thể là một tiền phòng đưa tới một trạng thái khác dành cho con người. Trong trường hợp mà ta tưởng tượng ra này, phàm ngã còn sống sót sẽ bị nhanh chóng thu hút vào trong dòng lôi cuốn nó đi tới số phận tương lai, số phận này chẳng dính dáng gì tới bầu không khí của quả đất hoặc Devachan mà dính dáng tới “cõi thứ tám” đôi khi được đề cập đến trong các tác phẩm huyền bí thời xưa. Cho đến nay có lẽ độc giả thông thường không hiểu vì cớ làm sao lại gọi nó là “cõi thứ tám”, nhưng ý nghĩa của nó bây giờ cũng đủ rõ ràng rồi và giờ đây lần đầu tiên người ta đã đưa ra lời giải thích về cấu tạo thất bội của hệ thống hành tinh chúng ta. Các bầu của tiến trình chu kỳ tiến hóa bao gồm bảy bầu, nhưng có một bầu thứ tám liên quan tới trái đất; ta nên nhớ rằng trái đất là bước ngoặt của dãy hành tinh theo chu kỳ và cõi thứ tám này đã bị đoản mạch, nó là một ngõ cụt, một địa hạt mà ta có thể nói cho đúng là nơi chốn một đi không trở lại.
Ta sẵn sàng đoán được rằng cái cõi duy nhất có liên quan tới dãy hành tinh của chúng ta đó ắt thuộc một giai bậc thấp hơn trái đất của ta vốn ở trên là tinh thần còn ở dưới là vật chất. Bản thân nó ắt không kém phần hữu hình so với trái đất ta khi được nhìn qua mắt phàm hoặc qua kính thiên văn; vì những nhiệm vụ mà cõi này phải thực hiện trong hệ thống hành tinh của chúng ta có liên kết trực tiếp với trái đất, cho nên hiện nay không còn nhiều điều bí mật liên quan tới câu đố về cõi thứ tám cũng như vị trí trên bầu trời mà ta có thể tìm ra được nó. Tuy nhiên, hoàn cảnh sống ở đây là những chủ đề mà các bậc Chơn sư rất dè dặt khi muốn truyền đạt cho đệ tử chưa được điểm đạo và hiện nay tôi không có thêm thông tin gì nữa liên quan tới những đề tài này.
Mặc dù vậy, dứt khoát là một điều phải khẳng định đó là: rất hiếm khi có một sự thoái hóa hoàn toàn của một phàm ngã đến mức đủ để thu hút nó rớt vào cõi thứ tám sau khi chết. Trong đại đa số các kiếp sống chỉ cần có một điều gì đó mà các nguyên khí cao có thể thu hút được về mình, thì điều này cũng đủ cứu vớt được cái trang giấy của sổ bộ đời đó khỏi bị hoàn toàn tiêu diệt. Ở đây ta phải nhớ rằng việc nhớ lại cuộc sống nơi cõi Devachan cho dù rất sống động, chỉ có liên quan tới những giai đoạn trong cuộc đời vốn tạo ra cái loại hạnh phúc lâng lâng mà chỉ có mỗi một cõi Devachan mới đủ tư cách nhận biết được; ở nơi đó cuộc sống mà tạm thời người ta vớt được lớp kem tinh hoa như thế rốt cuộc có thể được nhớ lại với đầy đủ mọi chi tiết. Còn việc nhớ lại trọn vẹn cả kiếp sống thì cá nhân chỉ đạt được vào lúc đến ngưỡng cửa của một trạng thái tâm linh còn cao siêu hơn nhiều so với trạng thái mà giờ đây chúng ta đang quan tâm; trạng thái ấy chỉ đạt được mãi về sau này khi các chu kỳ tiến hóa dài dằng dặc đã trải qua. Lúc bấy giờ, mỗi một trong hàng loạt các kiếp sống dài mà ta trải qua sẽ giống như một trang giấy trong một quyển sách mà chủ nhân của nó có thể lật đi lật lại tùy thích, cho dù nhiều trang giấy như thế đối với y rất có thể là đọc rất chán và sẽ không được thường xuyên đề cập đến. Giáo lý về sự Phục sinh thực sự có nghĩa là sự hồi phục tối hậu của hoài niệm này liên quan tới mọi phàm ngã đã từng bị quên lãng từ lâu rồi. Nhưng hiện nay chúng ta không có thời giờ ngừng lại để giải mã những điều bí ẩn dưới dạng biểu tượng liên quan tới giáo lý đang được truyền thụ cho bạn đọc. Sau này, có thể ta sẽ bỏ công ra để làm việc đó tách riêng, nhưng trong khi chờ đợi, ta hãy trở lại với câu chuyện có liên quan tới những sự kiện mà ta đã từng giải thích về trọn cả quyển sách với những trang giấy khi cuối cùng thì “sự phục sinh” đã được hoàn tất. Lúc bấy giờ sẽ không có những trang giấy hoàn toàn ô nhục; bởi vì có một chơn ngã nào đôi khi trong lúc lâm phàm đã liên kết với những phàm ngã suy thoái một cách đáng trách và đang tuyệt vọng đến nỗi các phàm ngã này hoàn toàn bị hút vào trong vòng xoáy của hạ giới, thì những trường hợp đó chơn ngã cũng không giữ lại trong cái ái lực của mình một vết tích nào về những phàm ngã ấy. Có thể nói rằng những trang giấy này đã bị xé ra khỏi quyển sách. Vào lúc cuối cuộc giành giật sau khi băng qua Kama loka, chơn ngã sẽ chuyển vào trạng thái tụ sinh vô thức; từ đó nó bỏ qua trạng thái Devachan và trực tiếp (mặc dù không ngay tức khắc xét về mặt thời gian) tái sinh qua kiếp tới để hoạt động nơi ngoại giới. Mọi ngã thức có liên quan tới kiếp vừa qua rốt cuộc sẽ được chuyển xuống hạ giới để cuối cùng “tiêu diệt mãi mãi ở đó. Đây là một cách diễn tả cũng giống như nhiều cách diễn tả khác đã bị thần học hiện đại (vốn là một kẻ canh giữ không trung thành) biến thành ra vô nghĩa đối với những sự kiện có thật về khoa học tâm linh.
CHÚ GIẢI
Không có một phần nào trong quyển sách mà tôi đang soạn hiện nay có nhu cầu cấp bách phải mở rộng như hai chương mà chúng ta vừa bàn đến. Trạng thái tồn tại Kama loka cùng với trạng thái cao hơn là Devachan (Kama loka chẳng qua chỉ là tiền phòng) – theo nhận xét của tôi – đã bị các huấn sư thoạt đầu để cho phần nào lờ mờ thì toàn bộ cơ tiến hóa mới có thể trở nên dễ hiểu hơn. Các trạng thái tâm linh vốn nối tiếp ngay cuộc sống trên cõi trần của chúng ta vốn là một bộ môn trong Thiên nhiên mà việc nghiên cứu nó hầu như có tính cách hấp dẫn không lành mạnh đối với bất kỳ người nào đã từng một lần nhận thức được rằng mình có thể tiếp xúc với nó – có một số điều kiện cho những quá trình thực nghiệm này – ngay cả khi còn sống. Trong một chừng mực nào đó chúng ta có thể phân biệt được những hiện tượng của trạng thái tồn tại mà một tạo vật con người phải chuyển vào khi thể xác đã chết. Kinh nghiệm về thần linh học đã cung cấp cho chúng ta nhiều sự kiện liên quan tới vấn đề đó. Những sự kiện này chẳng qua chỉ là những thuyết và những suy luận có tính cách rất gợi ý, chúng dường như đã đạt tới giới hạn tận cùng của suy đoán, chỉ có giới luật của thể trí đã được bồi dưỡng qua việc khảo cứu về nội môn bí giáo một cách rộng rãi nhất mới bảo vệ cho bất kỳ người nào muốn khảo sát những sự kiện này khỏi đi tới những kết luận mà việc nghiên cứu sẽ chứng tỏ rằng tất yếu là sai lầm. Vì lý do đó, những người khảo cứu Thông Thiên Học chẳng lấy gì làm tiếc khi sự tiến bộ của mình về khoa học tâm linh bị đem ra thử thách. Trong những trường hợp cho đến nay đã khiến họ khá thờ ơ với những vấn đề liên quan tới trạng thái tồn tại kế tiếp cuộc sống của chúng ta. Ta không thể thổi phồng những lợi ích về mặt trí tuệ mà ta rút ra được do nghiên cứu bảng thiết kế tổng quát trong Thiên nhiên về những cõi rộng lớn trong tương lai mà chỉ có sự thấu thị trọn vẹn của bậc Chơn sư mới thâm nhập được. Trước đó, ta cần phải đi vào chi tiết liên quan tới cái tiền cảnh tâm linh mà sự thấu thị kém cỏi hơn cũng có thể phần nào đạt đến được, nhưng thoạt nhìn thì nó có thể bị tưởng lầm là trọn cả viễn ảnh của tương lai.
Tuy nhiên, những tiến trình trước mà linh hồn phải trải qua vào lúc chết có thể được mô tả một cách tương đối trọn vẹn hơn so với khi nó được xác định trong chương vừa qua. Tôi tin rằng bản chất của sự giành giật diễn ra nơi Kama loka nhùng nhằng giữa các lưỡng nguyên thấp và lưỡng nguyên cao giờ đây có thể hiểu rõ hơn so với lúc ban đầu. Sự giành giật đó dường như là một quá trình cù cưa rất lâu dài và đa dạng chứ không phải như chúng ta có thể phỏng đoán lúc ban đầu là sự khẳng định tự động hoặc vô ý thức của những ái lực hoặc lực hoàn toàn đã xác định tương lai của chơn thần vào lúc chết. Nhưng trong đại đa số trường hợp đây là một giai đoạn sống có thể (thậm chí rất có thể) tiếp tục cù cưa qua một số năm liên tục khá lớn. Trong giai đoạn tồn tại này, những người quá cố hoàn toàn có thể biểu hiện ra đối với những người còn sống nhờ vào tác nhân của thuật đồng cốt tâm linh theo một cách có thể vượt xa nếu không hoàn toàn biện minh được cho những ấn tượng mà các nhà thần linh học đã rút ra được từ những sự liên lạc như thế.
Nhưng chúng ta không được kết luận một cách quá hấp tấp rằng hồn người trải qua sự đấu tranh hoặc tiến hóa nơi Kama loka mà xét về mọi phương diện thì thoạt nhìn đã được xác định như ta gợi ý. Trước hết, chúng ta phải cảnh giác không được duy vật hóa quá đáng quan niệm của mình về sự đấu tranh này bằng cách nghĩ rằng nó chỉ là một sự tách rời máy móc của các nguyên khí. Quả thật khi tâm thức của chơn ngã đã an trụ nơi phần cao siêu thì ắt có một sự tách rời máy móc liên quan tới sự vứt bỏ những nguyên khí thấp. Như vậy là vào lúc chết linh hồn sẽ máy móc vứt bỏ thể xác; linh hồn (có lẽ sẽ kết hợp những nguyên khí trung gian) mà một số nhà thần nhãn cao cấp có thể thực sự thấy nó rời khỏi chỗ trú của mình mà mình không còn cần tới nữa. Một tiến trình rất giống như vậy cuối cùng cũng có thể xảy ra nơi Kama loka liên quan tới vật chất của các nguyên khí tinh vi. Nhưng ta hãy hoãn việc xem xét điều này trong một lúc, vì thật là quan trọng khi ta nên tránh việc giả định rằng sự đấu tranh nơi Kama loka bản thân nó sẽ tạo ra sự phân chia tối hậu của các nguyên khí, tức là cái chết thứ nhì trên cõi trung giới.
Sự tranh giành nơi Kama loka quả thật là cuộc sống của thực thể trong giai đoạn tồn tại đó. Trong bản văn của chương trước ta có xác định chính xác rằng cuộc tiến hóa diễn ra trong giai đoạn tồn tại này không dính dáng gì tới sự chọn lựa đầy trách nhiệm giữa thiện và ác vốn tiếp diễn trong khi còn sống trên cõi trần. Kama loka là một phần của đại thế giới các hậu quả, chứ không phải là một cõi nơi mà người ta tạo ra các nguyên nhân (ngoại trừ trong những trường hợp đặc biệt). Vì vậy thực thể trong Kama loka không thực sự làm chủ được những hành vi của mình, đúng ra thì y là trò chơi của những ái lực mà chính y đã xác lập rồi. Nhưng tất cả những ái lực này đều phải tự khẳng định hoặc bị cạn kiệt đi từ từ và thực thể nơi Kama loka có một ý thức rất bén nhạy thuộc một loại này hay loại khác trong suốt thời gian tồn tại đó. Bây giờ, chỉ cần một chút suy gẫm thì ta ắt thấy rằng những ái lực nào vốn thu gom được sức mạnh để tự khẳng định mình ắt có liên quan tới những hoài bão tâm linh trong kiếp vừa trải qua, còn những ái lực nào sẽ bị cạn kiệt đi ắt có liên quan tới những thị hiếu về vật chất, những xúc cảm và những xu hướng. Nên nhớ rằng thực thể nơi Kama loka đang trên đường tiến nhập Devachan, nói cách khác, nó đang tăng tiến vào các trạng thái được gọi là trạng thái Devachan, quá trình tăng tiến này được hoàn thành theo luật tác động và phản động, tiêu và trưởng giống như hầu hết mọi tiến trình khác trong Thiên nhiên, thể hiện qua một loạt những dao động giữa những sức hút theo hai chiều hướng khác nhau của tinh thần và vật chất. Vậy là trong khi tồn tại ở Kama loka, Bản ngã có thể nói là hoặc tiến tới Thiên Đường hoặc lùi về trần thế, và chính khuynh hướng dao động giữa hai cực tư tưởng hoặc trạng huống này đôi khi đã đưa y trở lại phạm vi cuộc sống mà y vừa mới rời bỏ.
Những sự đồng cảm nhiệt thành của y đối với cuộc sống đó tuyệt nhiên không thể tiêu tan ngay được. Nên nhớ rằng những sự đồng cảm của y với những khía cạnh cao siêu của cuộc sống đó thậm chí còn chưa tiêu tan nữa. Chẳng hạn như xét tới cái điều mà ở đây ta gọi là ái lực với trần thế, thì ta không cần bao gồm trong đó việc vận dụng tình cảm vốn là một chức năng nơi cõi Devachan đã đạt đến mức trội vượt. Nhưng có lẽ ngay cả đối với tình cảm của y thì chúng cũng có những khía cạnh trần tục và tâm linh, và việc cân nhắc tới chúng cùng với những hoàn cảnh và môi trường xung quanh của cuộc sống trên trần thế thường có dính dáng tới việc thực thể nêu trên sống nơi Devachan bị thu hút về phía cuộc sống nơi trần thế.
Dĩ nhiên, ta ắt thấy ngay rằng sự liên giao do việc thực hành thần linh học ắt tạo nên mối liên lạc giữa những thực thể nơi Kama loka mà ta xét ở đây với những người bạn mà họ còn bỏ lại trên trần thế. Điều này phải diễn ra trong thời kỳ mà linh hồn còn chú ý tới những hồi ức về trần thế và đối với suy nghĩ này, ta phải xét đến hai điều có bản chất rất quan trọng.
1. Trong khi đang chú tâm như vậy, thì nó sẽ bị lãng trí đối với sự phát triển tâm linh mà nó đã dấn thân vào trong khi đã dao động theo chiều hướng khác. Ta cũng nên nhớ kỹ rằng, điều này nhằm nói tới những hoài bão tâm linh khi còn sống trên cõi trần, nhưng những kinh nghiệm tâm linh mới mẻ đó dường như thuộc một loại không thể chuyển dịch lại bằng những thuật ngữ thông thường của trí năng trên cõi trần, ngoài ra nó cũng không thuộc phạm vi của những năng khiếu vốn tác động nơi linh hồn trong khi nó còn bận tâm với những hồi ức cũ trên trần thế. Ta có thể trình bày vấn đề này đại khái theo như biểu tượng, nhưng chỉ ở một mức độ bất toàn; đó là trường hợp một người đi di trú vì hoàn cảnh nghèo; ta có thể tưởng tượng rằng y đã làm ăn khấm khá nơi xứ sở mình mới sang, được học hành đàng hoàng ở đó, tham gia vào những việc công cộng, những khám phá, công việc nhân ái v. v. . . Y có thể vẫn còn liên lạc thư từ với thân bằng quyến thuộc ở nhà, nhưng y thấy khó lòng mà khiến cho họ theo kịp với những gì đang làm bận tâm y. Tuy nhiên, sự minh họa này không áp dụng hoàn toàn cho mục đích hiện nay của ta, trừ phi chúng ta nghĩ tới việc người di trú này là đối tượng của một luật tâm lý học phải che phủ mất bớt sự hiểu biết của mình, khi y ngồi xuống viết thư cho những người bạn xưa kia và trong lúc đó y phải cố hồi phục lại cái tình trạng tâm trí trước kia của mình. Khi thời gian trôi qua thì y càng ngày càng ít có khả năng viết được về những đề tài xưa cũ, vì chẳng những nó kém cái mức mà những hoạt động thực tế hiện nay của tâm trí y đang cứu xét tới, nó lại còn mờ nhạt đi một phần lớn đối với ký ức của y. Những bức thư của y ắt gây ra ngạc nhiên cho những người nhận được, họ tự nhủ rằng chắc chắn là vẫn con người đó viết thư nhưng y đâm ra rất đần độn và ngu si khi so sánh với cái người mà họ quen biết trước khi người đó xuất ngoại.
2. Ta cũng phải nhớ một luật sinh lý học rất nổi tiếng, theo đó những năng lực thường được sử dụng ắt trở nên nhuần nhuyễn, còn những năng lực bị bỏ lơ ắt phải teo tóp đi; luật này áp dụng được cho cả cõi trung giới cũng như cõi hồng trần. Linh hồn nào nơi Kama loka mà có thói quen tập trung chú tâm vào những hồi ức về cuộc sống vừa qua, thì sẽ tăng cường và củng cố những khuynh hướng vốn xung khắc với lại những sự xung khắc cao siêu. Y càng bị thu hút bởi tình cảm của những người bạn còn sống nhằm lợi dụng những cơ hội do đám đồng cốt cung cấp để thể hiện nơi cõi trần, thì những xung lực lôi kéo y lại cuộc sống cõi trần lại càng mãnh liệt, và sự chậm trễ về tiến bộ tâm linh của y lại càng nghiêm trọng. Chính nhận xét này là động cơ thúc đẩy quan trọng nhất khiến những vị đại diện cho giáo lý Thông Thiên Học, không ủng hộ cũng không tán thành mọi toan tính nhằm liên lạc với những linh hồn quá cố bằng cách lên đồng. Những sự liên lạc đó càng chân thực bao nhiêu, thì chúng càng gây thiệt hại bấy nhiêu cho những cư dân nơi Kama loka. Trong tình trạng hiểu biết hiện nay của ta, thật khó mà xác định một cách đáng tin cậy mức độ thiệt hại đó của các thực thể nơi Kama loka. Và chúng ta có thể bị cám dỗ qua việc tin rằng trong một số trường hợp những thỏa mãn lớn lao mà người còn sống rút ra được do việc liên lạc đó có thể vượt trên những thiệt hại mà linh hồn quá cố phải chịu. Tuy nhiên, sự thỏa mãn này chỉ trở nên hả hê tỉ lệ với mức độ người bạn còn sống không nhận thức được những hoàn cảnh mà việc liên lạc diễn ra như thế nào. Thoạt tiên thì đúng là ngay sau khi chết, những kỷ niệm còn sống động và hoàn chỉnh về cuộc sống trên cõi trần có thể khiến cho thực thể nơi Kama loka biểu hiện ra thành một nhân vật rất giống như người đã chết, nhưng từ khi chết đi, sự tiến hóa của y đã đổi hướng. Khi biểu lộ trên cõi trần, y không còn bộc lộ được một sự hưng phấn mới mẻ nào về tư tưởng trong tâm trí mình. Khi biểu lộ như thế, y không bao giờ tỏ ra khôn ngoan hơn hoặc cao siêu hơn xét theo giai bậc Thiên nhiên so với lúc y vừa chết; ngược lại, y trở nên càng ngày càng kém thông minh hơn và khi thời gian trôi qua thì xét theo biểu kiến y tỏ ra ít hiểu biết hơn trước kia. Y ắt gặp tình trạng lực bất tòng tâm khi liên lạc với những người bạn còn ở lại, và việc y không thể làm được điều đó càng ngày càng dần dần trở nên thê thảm.
Thế nhưng, ta cũng phải xét thêm một chuyện nữa, nó càng khiến ta nghi ngờ việc liên lạc với những người bạn đã quá cố có phải là một ham muốn khôn ngoan và thích đáng hay chăng. Chúng tôi có thể nói rằng đừng bao giờ quan tâm tới cái người bạn đã quá cố và dần dần ít còn chú ý tới cuộc sống trên trần thế mà mình đã bỏ lại; trong khi ấy vẫn còn một điều gì đó trong cái bản ngã cũ mà y đã bỏ lại sẽ biểu lộ ra với chúng ta, thật là thú vị khi liên lạc được với cả cái phần tàn dư đó. Chúng ta có thể lập luận rằng nếu cái người thân thương đó mà có bị chậm trễ chút ít trên đường lên tới Thiên Đàng vì phải la cà nói chuyện với chúng ta, thì y cũng sẵn lòng hi sinh như thế vì lợi ích của chúng ta. Ở đây ta đã quên mất một điều, đó là trên cõi trung giới cũng như trên cõi hồng trần, tập một thói quen xấu là chuyện rất dễ. Một khi mà linh hồn nơi Kama loka đã làm nguôi ngoai cơn khát liên lạc với cõi trần của mình bằng nước múc lên từ cái giếng của thuật đồng cốt, thì có một sự thôi thúc mạnh mẽ khiến y cứ sa đà đi sa đà lại như thế. Chúng ta có thể làm nhiều hơn mức khiến linh hồn bị đãng trí đối với việc riêng của mình qua việc liên lạc với nó bằng thần linh học. Khi làm như vậy, chúng ta có thể gây ra thiệt hại nặng nề và hầu như là mãi mãi. Tôi không khẳng định điều này nhất thiết là lúc nào cũng vậy. Nhưng chỉ cần xem xét vấn đề một cách nghiêm túc về mặt đạo đức thì ta cũng đủ nhận ra được những nguy hiểm tiềm tàng dính líu tới cách hành động này. Mặt khác, cũng có những trường hợp rõ ràng là ý muốn liên lạc chủ yếu được khẳng định từ phía bên kia; nghĩa là linh hồn đã quá cố bị nặng trĩu một ham muốn nào đó không được thỏa mãn, có thể là y chưa hoàn thành một bổn phận nào đó còn bị bỏ sót trên cõi trần; lúc ấy sự chú ý của những người bạn vẫn còn sống có thể có một tác dụng ngược hẳn lại với cái sự chú ý chỉ tổ khuyến khích những thực thể nơi Kama loka nối lại những quan hệ xưa cũ với cõi trần. Tuy những trường hợp như thế, người bạn còn sống vì say mê liên lạc có thể gián tiếp trở thành phương tiện để dọn đường cho sự tiến bộ tâm linh của mình. Tuy nhiên, ở đây ta lại phải cảnh giác với cái khía cạnh hão huyền của việc xuất hiện ra. Một ý muốn biểu lộ của một cư dân nơi Kama loka không nhất thiết biểu hiện cái ý tưởng đang có trong tâm trí y. Đó có thể là dư âm của một ham muốn xưa cũ, có thể là rất xưa cũ, mà đến lúc bấy giờ lần đầu tiên mới có thể tìm được phương tiện để biểu lộ ra bên ngoài. Như vậy, mặc dù có thể là hợp lý khi ta quan trọng hóa một ý muốn mà ta hiểu được do một người vừa mới chết truyền đạt lại cho ta từ cõi Kama loka thì ta nên thận trọng đầy nghi vấn khi xem xét một ý muốn như thế xuất phát từ u hồn (shade) của một người đã chết lâu rồi, và dáng vẻ nói chung của u hồn như thế dường như không khiến cho ta nghĩ rằng nó còn giữ lại một ý thức sống động về phàm ngã xưa cũ của mình.
Tôi nghĩ rằng việc công nhận những sự kiện và khả năng đó của cõi Kama loka sẽ giải thích thỏa đáng được cho các nhà Thông Thiên Học rất nhiều kinh nghiệm liên quan tới thần linh học mà việc trình bày giáo lý bí truyền lúc ban đầu về vấn đề đó còn để lại nhiều điều lờ mờ.
Ta sẵn sàng nhận thấy rằng khi linh hồn dần dần tháo gỡ mình ra khỏi Kama loka với những ái lực làm chậm phát triển của y trên đường tiến tới Devachan thì cái khía cạnh lôi cuốn vào trần thế càng ngày càng yếu đi; và tất yếu là nơi Kama loka lúc nào cũng có một số lớn thực thể hầu như đã chín muồi để hoàn toàn xuất lộ nơi Devachan. Chính vì thế mà họ dường như ở tình trạng rất vừa ý đối với người quan sát trên cõi trần. Xét về hoạt động của các nguyên khí thấp nơi cõi cảm dục và những người này đã chìm vào tình trạng của những thực thể hoàn toàn mơ hồ và không ai hiểu được; theo gương những tác giả huyền bí thời xưa, tôi có gọi những người này là “ma hình” (shell) trong phần chính văn của chương này. Tuy nhiên, cách gọi như vậy không hay lắm. Tốt hơn là nên theo một người tiền bối khác để gọi họ là “u hồn” (shade), điều này có vẻ hợp với tình trạng của họ hơn. Khi họ từ trần, thì mọi ý thức sống động vốn cố hữu nơi các nguyên khí liên quan tới các hoạt động trên cõi trần đã được chuyển dời sang các nguyên khí cao, các nguyên khí cao này không biểu hiện nơi các buổi lên đồng. Ký ức của họ về cuộc sống nơi cõi trần hầu như đã cạn kiệt. Trong trường hợp đó, những nguyên khí thấp của họ chỉ được khơi hoạt trở lại do ảnh hưởng hào quang của người đồng cốt mà họ bị thu hút vào đó; bấy giờ họ cũng chẳng khác gì những cái gương soi trên cõi trung giới mà tư tưởng của người đồng cốt hoặc người lên đồng phản chiếu vào đó. Nếu chúng ta có thể tưởng tượng được màu sắc của một bức tranh từ từ chìm vào trong chất liệu của bức tranh đó để rồi cuối cùng xuất hiện trở lại một cách tinh khôi chói lọi ở phía bên kia, thì chúng ta có thể quan niệm được một tiến trình không làm hủy hoại bức tranh mà vẫn để cho phòng triển lãm nơi nó được trưng bày có một phong cảnh rất ảm đạm với hậu cảnh màu nâu vô nghĩa; điều đó rất giống với tình trạng các thực thể nơi Kama loka trước khi cuối cùng họ vứt bỏ cái vật liệu mà tâm thức nơi cõi trung giới của họ đã hoạt động trong đó trước kia để rồi bây giờ chuyển sang tình trạng thuần túy thanh tịnh của Devachan.
Nhưng điều này không phải là trọn cả câu chuyện khiến ta phải coi những biểu lộ của cõi Kama loka một cách dè dặt đầy nghi vấn vì hiện nay ta đã hiểu được vấn đề này cho nên ta cũng biết được khi đã đến lúc chết lần thứ hai trên cõi trung giới (cái chết này khiến cho Bản ngã đã được tẩy trược giải thoát hoàn toàn cõi Kama loka để tiến nhập vào trạng thái Devachan) lúc đó có một điều gì đó còn bỏ lại nơi Kama loka, nó tương ứng với cái xác chết đã bị bỏ lại trên trần thế khi linh hồn lần đầu tiên thoát ra được cuộc sống trên cõi trần. Quả thật có một thể vía đã chết bị bỏ lại trên cõi Kama loka, do đó chắc chắn là thỏa đáng khi ta áp dụng tính ngữ “ma hình” cho cái tàn dư đó. Cái ma hình trong trạng thái đó chẳng bao lâu nữa sẽ bị tan rã trong Kama loka, cũng giống như cái xác phàm bị bỏ lại cho những tiến trình hợp thức của Thiên nhiên trên cõi trần thì chẳng bao lâu cũng bị tan rã để rồi hòa lẫn những yếu tố của mình vào cái kho chứa vật chất chung thuộc loại vật chất trên cõi trần. Nhưng chừng nào mà sự tan rã đó chưa hoàn tất thì thậm chí ngay cả ở trạng thái ma hình (mà Chơn ngã đã hoàn toàn bỏ lại) nó vẫn còn có thể đôi khi bị nhầm lẫn với một thực thế còn sống động trong buổi lên đồng. Trong lúc đó, nó vẫn còn là một cái gương soi trên cõi trung giới mà người đồng cốt thấy trong đó có phản chiếu tư tưởng của chính mình bèn rút những tư tưởng đó ra và tin chắc rằng nó xuất phát từ một nguồn ngoại lai. Theo nghĩa đúng nhất của thuật ngữ này thì hiện tượng đó là xác chết trên cõi trung giới đã sống lại không hơn không kém, vì chừng nào nó chưa hoàn toàn tan rã thì nó vẫn còn có một liên kết mong manh với thực thể đang nhập nơi Devachan. Cũng giống như trước kia, có một sự liên kết mong manh giữa thực thể đã nhập Kama loka và cái xác chết bị bỏ lại trên cõi trần. Cái sự liên lạc mà ta vừa nói đến được duy trì bằng vật liệu rất tản mạn của nguyên khí thứ ba của người quá cố tức là cái phách (linga sharira), tôi tin rằng việc nghiên cứu cái lãnh vực này sẽ khiến cho chúng ta hiểu biết nhiều hơn mức hiện nay về những hoàn cảnh khiến cho đôi khi trong các buổi lên đồng có thể thực hiện được các sự hiện hình. Nhưng bây giờ chúng ta không đi lạc đề sang đó, chỉ cần nhận xét cái điều tương tự đó cũng giúp cho ta thấy được giữa thực thể nơi Devachan và cái ma hình bị vứt bỏ nơi Kama loka có một mối liên hệ giống như vậy vẫn còn tiếp tục trong một thời gian; trong khi nó còn tiếp diễn thì nó vẫn còn trì kéo chơn linh nơi cõi cao, nhưng có lẽ điều đó giống như một ánh chiều tà của ma hình trong buổi hoàng hôn. Tuy nhiên đối với một người bạn nào còn sống mà có thể thấy được cái người quá cố đó bằng thần nhãn hoặc một phương tiện nào khác, thì việc thấy được hoặc nhận biết được một ma hình như thế chắc chắn là vô cùng thảm thiết khi y lầm tưởng rằng nó chính là người bạn xưa cũ của mình.
Giờ đây, khi ta tương đối đã hiểu rõ về Kama loka, thì ta có thể sử dụng những thuật ngữ liên quan tới các hiện tượng của nó một cách chính xác hơn trước kia. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta chọn dùng một cách diễn tả mới tức là ma hồn để chỉ những thực thể nơi Kama loka vừa mới từ trần hoặc vì lý do nào khác vẫn còn la cà nơi trần thế thì một phần lớn những thuộc tính trí tuệ là đặc trưng của chúng trên cõi trần thì lúc bấy giờ ta phải tìm những thuật ngữ khác để chỉ những điều mà ta đã áp dụng trong trường hợp cấp bách trước kia. Thật vậy, chúng ta có thể hoàn toàn từ bỏ cái thuật ngữ bất tiện là “âm ma” (elementary) vì nó có thể lẫn lộn với tinh linh ngũ hành và nhất là nó không thích hợp với những thực thể mà ta đang mô tả. Tôi xin gợi ý rằng (khi xét theo quan điểm của chúng ta) cái ma hồn (astral soul) đã chìm vào trong tình trạng già yếu về trí tuệ có thể được gọi là một u hồn (shade), còn thuật ngữ ma hình (shell) nên được dành cho những cái xác chết thực sự trên cõi trung giới mà chơn linh nơi Devachan cuối cùng đã vứt bỏ.
Khi nghiên cứu định luật phát triển tâm linh nơi cõi Kama loka, dĩ nhiên là chúng ta muốn tìm hiểu phải mất bao nhiêu lâu thì ma hồn mới có thể chuyển dời trọn vẹn được tâm thức từ các nguyên khí thấp sang nguyên khí cao, và như thường lệ khi ta xét đến những con số liên quan tới những tiến trình vô vi trong Thiên nhiên, thì câu trả lời rất co giãn. Nhưng tôi tin rằng các bậc đạo sư bí truyền ở Đông phương có tuyên bố là xét về đa số bình thường nhân loại (vì đó chính là đại đa số lớp trung lưu của gia đình nhân loại xét theo nghĩa tâm linh) chẳng có gì bất thường khi một thực thể Kama loka phải biểu lộ tới mức từ 25 năm cho tới 30 năm. Nhưng những con số này có thể tăng lên đáng kể về mỗi phía của con số trung bình đó. Điều này có nghĩa là một con người rất đê tiện và ngu xuẩn có thể la cà ở Kama loka một thời gian dài hơn nhiều vì tuyệt nhiên không có một nguyên khí nào cao siêu đã phát triển đến mức đủ để tiếp thu tâm thức của y, còn ở phía bên kia của bậc thang, thì linh hồn rất thông minh và có trí tuệ hoạt động tích cực có thể ở lại một thời kỳ rất lâu nơi Kama loka (vì thiếu những ái lực tâm linh nơi lực tương ứng với trí tuệ) do các lực và nguyên nhân được sản sinh ra trên những cõi cao của hiệu quả có thể tồn tại rất lâu mặc dù về phương diện này hoạt động tâm trí khó lòng tách rời khỏi tính linh ngoại trừ trong những trường hợp mà nó đã đặc biệt liên kết với các tham vọng trên cõi trần. Lại nữa, trong khi thời kỳ ở Kama loka có thể bị kéo dài vượt quá mức trung bình do nhiều nguyên nhân khác nhau thì thời kỳ này cũng có thể hầu như rút ngắn lại không đáng kể khi tính linh của một người hấp hối vào lúc tuổi già sức yếu đã tiến xa đến mức khi lìa trần người ta đã hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hợp thức.
Có một khả năng quan trọng khác liên quan tới những sự hiện hình đến với chúng ta qua đường lối liên lạc thông thường đối với Kama loka, nó cũng đáng được lưu ý ở đây, mặc dù xét theo bản chất thì thường không có khả năng thực hiện được điều này. Không một sinh viên Thông Thiên Học mới đây nào cho đến nay có thể hi vọng biết được nhiều điều về tình trạng tồn tại đang chờ đợi các vị Chơn sư khi ngài bỏ xác trên trần thế. Những khả năng cao siêu mở ra trước mắt các ngài đối với tôi dường như là hoàn toàn vượt ra ngoài tầm thẩm định của trí tuệ. Nếu chỉ dựa vào sự khôn khéo nơi bộ óc phàm thôi, thì không ai đủ khôn ngoan để hiểu được Niết Bàn là gì; thế nhưng trong một số trường hợp dường như các Chơn sư chọn cách theo đuổi một đường lối trung dung giữa sự luân hồi và nhập Niết Bàn; điều này diễn ra nơi các cõi cao của Devachan, nghĩa là trong cảnh vô sắc giới (arupa) của Devachan, lúc đó ngài có thể chờ đợi cho nhân loại tiến bộ chầm chậm tới tình trạng cao siêu mà các ngài đã đạt được. Thế mà một Chơn sư đã trở thành một chơn linh nơi cõi Devachan thuộc loại cao siêu nhất thì do hoàn cảnh sống nơi Devachan của mình, ngài cũng không cắt đứt sự biểu lộ ảnh hưởng của mình trên trần thế giống như trường hợp một vong linh thông thường nơi Devachan phải trải qua trạng thái đó trên đường luân hồi. Chắc chắn ngài không gây ảnh hưởng thông qua những dấu hiệu trên cõi trần đối với đám thính giả hỗn tạp, nhưng rất có thể một đồng tử thuộc loại cao siêu nhất (có lẽ gọi y là nhà thấu thị thì đúng hơn) có thể chịu ảnh hưởng của ngài bằng cách đó. Chơn linh của Chơn sư đôi khi có thể phù hộ hoặc gây linh hứng cho một số vĩ nhân trong lịch sử thế giới một cách hữu thức hoặc vô thức tùy trường hợp.
Tất nhiên là sự tan rã của ma hình nơi Kama loka gợi cho bất kỳ người nào ra sức tìm hiểu tiến trình này nghĩ rằng trong Thiên nhiên phải có một kho chứa vật liệu chung chung nào đó thích hợp với cõi tồn tại đó, tương ứng với quả đất trên cõi trần và những yếu tố bao xung quanh nó mà chúng ta đã ký gửi thân xác vào khi từ trần. Những bí nhiệm lớn lao mà suy nghĩ này đụng chạm đến ắt đòi hỏi phải khảo cứu toàn diện hơn nhiều so với mức chúng ta có thể đảm nhiệm được; nhưng đôi khi ta có thể đưa ra một ý tưởng tổng quát liên quan tới vấn đề này vẫn có ích hơn là trì hoãn thêm nữa. Trạng thái Kama loka có những cấp vật chất tương ứng biểu lộ xung quanh nó. Ở đây tôi không thử ra sức đi sâu vào môn siêu hình học của vấn đề này, nó thậm chí khiến chúng ta vứt bỏ ý niệm cho rằng vật chất cõi trung giới ít có thực hơn và ít rành rành hơn vật chất mà các giác quan trên cõi trần của chúng ta ghi nhận được. Hiện nay, ta chỉ cần giải thích rằng sự gần gũi của Kama loka đối với trần thế (điều này đã trở nên hiển nhiên qua kinh nghiệm của khoa thần linh học và giáo huấn Đông phương cũng giải thích về sự kiện này) cũng giống như việc hồn thú của chúng ta gần gũi đối với con người khi còn sống. Thật vậy, giai đoạn Kama loka tức là cái cõi vật chất lớn lao ở trạng thái thích hợp để cấu tạo thành cõi đó thì cũng có thể nhận biết được bằng gáic quan của các thực thể trên trung giới cũng như của nhiều nhà thần nhãn; Kama loka là nguyên khí thứ tư của trái đất cũng giống như Kama rupa là nguyên khí thứ tư của con người. Đó là vì trái đất cũng có bảy nguyên khí chẳng khác nào loài người đang ở trên đó. Vậy là trạng thái Devachan tương ứng với nguyên khí thứ năm của trái đất, còn Niết Bàn tương ứng với nguyên khí thứ sáu.