Nghiệp là một biểu hiện tập thể được áp dụng cho cái nhóm phức tạp những ái lực về điều thiện và điều ác mà một con người gây ra trong buổi sinh thời, cùng với tính cách vốn cố hữu nơi nguyên khí thứ năm của y trải qua suốt quãng thời gian giữa lúc y chết so với một kiếp sống nơi ngoại giới và lúc y sinh ra trong một kiếp sống kế tiếp. Đôi khi người ta có phát biểu rằng giáo lý này dường như đòi hỏi khái niệm về một thẩm quyền tâm linh cao cả tổng kết những hành vi của một kiếp sống con người lúc y lâm chung, xem xét những hành động thiện và ác của y rồi phán xét y nói chung trong trường hợp này. Nhưng việc hiểu được cách thức mà các nguyên khí con người phân ly vào lúc chết sẽ cung ứng cho ta một manh mối để hiểu được các vận hành của Nghiệp báo, cũng như cái đề tài lớn lao mà tốt hơn ta nên xem xét trước nhất, đó là tình trạng tâm linh tức thời của con người sau khi chết.
Vào lúc chết, điều vốn thực sự là Chơn ngã cuối cùng bỏ lại ba nguyên khí thấp – thể xác, sinh lực và đối thể tinh vi của thể xác – còn bốn nguyên khí cao thoát được vào trong cái thế giới ở ngay bên trên thế giới của chúng ta; ở ngay bên trên có nghĩa là xét theo thứ tự về tính linh – không phải ở bên trên gì cả mà ở trong và thuộc về chính nó khi ta xét tới địa điểm thực sự – đó là dục giới tức kama loka theo một cách diễn tả rất quen thuộc của tiếng Phạn. Ở đây có diễn ra một sự chia ly giữa hai lưỡng nguyên bao gồm bốn nguyên khí cao. Những lời giải thích nêu trên liên quan tới mức độ chưa hoàn hảo về mặt phát triển cho đến nay của những nguyên khí cao nơi con người ắt cho thấy rằng việc ước lượng về diễn trình này xét theo bản chất của sự chia ly máy móc giữa các nguyên khí, chỉ là một cách đại khái để bàn tới vấn đề này. Nó phải được biến đổi trong tâm trí của bạn đọc dưới ánh sáng của điều mà ta vừa nêu. Nói cách khác ta có thể mô tả đó là một sự thử thách về mức độ phát triển của nguyên khí thứ năm. Tuy nhiên khi xem xét ý tưởng trên dưới khía cạnh này, chúng ta phải quan niệm một mặt thì nguyên khí thứ sáu và thứ bảy lôi kéo nguyên khí thứ năm tức hồn người theo một hướng, còn một mặt thì nguyên khí thứ tư lôi kéo nó theo một hướng khác trở lại trần thế. Vậy mà nguyên khí thứ năm lại là một thực thể rất phức tạp, có thể được phân chia thành ra các yếu tố cao và thấp. Trong cuộc đấu tranh diễn ra giữa các nguyên khí lúc sinh thời đồng hành với nhau, thì bộ phận tốt nhất, thanh tịnh nhất, cao siêu nhất và tâm linh nhất của nó bám lấy nguyên khí thứ sáu, còn các bản năng thấp, các xung động và các ký ức của nó bám cứng lấy nguyên khí thứ tư, và trong một chừng mực nào đó nó đã bị xé toạt ra. Những tàn tích thấp thỏi kết hợp với nguyên khí thứ tư trôi nổi trong bầu không khí của trái đất, còn những yếu tố tốt nhất (ta phải hiểu rằng điều này thực sự cấu thành Chơn ngã của phàm ngã lúc còn sống trên trần thế) thì tâm thức của nó đi theo nguyên khí thứ sáu và thứ bảy nhập vào một trạng thái tâm linh mà ta sắp khảo sát tới bản chất của nó.
Khi bác bỏ tên gọi bình dân theo tiếng Anh dành cho trạng thái tâm linh này vì nó gắn bó với quá nhiều quan niệm sai lầm cho nên thật bất tiện, chúng ta chấp nhận theo tên gọi Đông phương cái vùng hoặc trạng thái mà các nguyên khí cao của tạo vật con người chuyển vào đó lúc chết. Hơn nữa, điều này cũng đáng mong muốn vì mặc dù Devachan của triết lý Phật giáo tương ứng về một số phương diện với ý niệm hiện đại của Âu Tây về thiên đường, song nó khác thiên đường ở những phương diện khác vốn còn quan trọng hơn nữa.
Tuy nhiên, trước hết ở Devachan, cái còn sống sót không chỉ là chơn thần vốn sống còn trải qua mọi biến đổi của trọn cả thiên cơ tiến hóa và lướt từ thể xác này sang thể xác khác, từ hành tinh này sang hành tinh khác v. v. . .; điều còn sống sót nơi Devachan chính là phàm ngã hữu ngã thức của con người, quả thật là có một vài hạn chế mà ta sẽ xét ngay tới, thế nhưng đó vẫn là phàm ngã cũ khi xét về những xúc cảm cao siêu, những hoài bão, tình cảm thậm chí những thị hiếu giống như khi còn sống trên trần thế. Có lẽ tốt hơn ta nên nói đó là tinh hoa của phàm ngã hữu ngã thức quá cố.
Độc giả ắt cũng được bõ công khi học biết điều mà Đại tá H. S. Olcott có nói tới trong phần Vấn đáp Giáo lý Phật giáo nói về sự khác nhau cố hữu giữa “chơn ngã” và “phàm ngã.” Vì ông viết chẳng những được sự tán thành của Tu sĩ cao cấp ở Sripada và Galle, Sumangala, mà còn do được giáo huấn trực tiếp của Sư phụ, cho nên những lời lẽ của ông ắt có thẩm quyền đối với sinh viên huyền bí học. Ông nói trong phần phụ lục như sau:
“Sau khi suy gẫm kỹ, tôi đã thay thế từ ‘phàm ngã’ vào chỗ ‘chơn ngã’ mà tôi đã viết ra trong ấn bản thứ nhất. Những sự xuất hiện liên tiếp ở trên một hay nhiều trái đất, tức là ‘sự giáng sinh’ của những bộ phận cố kết với ái dục (ngũ uẩn) của một thực thể nào đó, tức là một sự nối tiếp của các phàm ngã. Phàm ngã của kiếp sống này khác với phàm ngã của kiếp sống trước kia hoặc kiếp sống kế tiếp. Nghiệp (vị cứu tinh) đang ngụy trang – hoặc liệu ta nói là phản ảnh? – nơi phàm ngã của một nhà hiền triết cũng như nơi phàm ngã của một thợ thủ công v. v. . . trải qua suốt chuỗi tái sinh. Nhưng mặc dù các phàm ngã luôn luôn thay đổi nhưng chúng được xỏ xâu trên một dòng sống duy nhất giống như những hạt ngọc châu được xỏ lại một cách liên tục.“Đó luôn luôn là cái dòng sống đặc biệt này chứ không phải là dòng sống khác. Vì vậy nó có tính chất cá biệt và cái sự ba động của kiếp sống cá biệt vốn bắt đầu nơi Niết Bàn tức khía cạnh nội giới của Thiên nhiên, cũng như ba động của ánh sáng hay nhiệt xuyên qua chất hậu thiên khí (aether) để bắt đầu cội nguồn năng động của mình. Cái ba động sự sống cá thể đó trải qua đời sinh hoạt xuyên suốt khía cạnh ngoại giới của Thiên nhiên do sự thôi thúc của Nghiệp báo và sự hướng dẫn sáng tạo của Ái dục (Tanha) trải qua biết bao nhiêu biến đổi theo chu kỳ để rồi trở lại Niết Bàn. Ông Rhys Davids gọi cái điều chuyển từ phàm ngã này sang phàm ngã khác dọc theo chuỗi dòng sống cá thể đó là ‘tính tình’ hoặc ‘hành’. Vì ‘tính tình’ không phải là một điều trừu tượng siêu hình mà là toàn bộ những phẩm chất trí tuệ cùng với những xu hướng đạo đức của con người, cho nên nó chẳng giúp gì vào việc xua tan cái điều mà ông Rhys Davids gọi là ‘mưu mẹo tuyệt vọng về một điều bí nhiệm’, nếu ta coi ba động sự sống đó là chơn ngã, còn mỗi một chuỗi biểu lộ trên cuộc đời của nó là một phàm ngã riêng biệt?“Trong ‘Trường Bộ Kinh’ thuộc phần Kinh Tạng, có trình bày việc Đức Phật chối bỏ ‘linh hồn’ để biểu thị cái niềm tin hão huyền đang thịnh hành rằng có một phàm ngã độc lập chuyển kiếp được, một thực thể có thể di chuyển bất biến từ kiếp này sang kiếp khác, hoặc đi tới một nơi khác hoặc một trạng thái khác với vai trò là một thực thể toàn bích cho nên nó có thể hưởng lạc hoặc chịu đau khổ mãi mãi. Điều ngài chứng tỏ chỉ nghĩa là cái ‘ngã thức’ đó không thể có được sự thường trụ xét theo luận lý vì những yếu tố sơ cấp tạo nên nó cứ thay đổi luôn luôn và cái ‘bản ngã’ của kiếp này khác với bản ngã của mọi kiếp khác. Nhưng trong Phật giáo, tôi thấy mọi điều đều phù hợp với thuyết cho rằng có những sự tiến hóa dần dần của một con người toàn bích, nghĩa là một Đức Phật phải trải qua a tăng kỳ kiếp. Và trong tâm thức của đấng vào cuối cái chuỗi sinh tử luân hồi đó mà đạt được Phật quả hoặc đã thành tựu được tứ Thiền tức là sự phát triển thần bí của bản ngã trong bất cứ kiếp nào trước kiếp cuối cùng, thì ngài có thể nhận thức được mọi cảnh vật các kiếp nối tiếp nhau. Trong ‘Bổn Sinh Kinh’ mà ông Rhys Davids đã dịch rất hay có một cách diễn đạt cứ lập đi lập lại mà tôi nghĩ rằng đã ủng hộ cho ý kiến trên, nghĩa là ‘Thế rồi đấng Thế Tôn đã làm bộc lộ ra một diễn biến ẩn tàng do sự tái sinh’ hoặc là ‘điều đã được ẩn tàng bởi v. v. . .’. Vậy thì Phật giáo sơ khai rõ rệt là chủ trương có một ký ảnh thường tồn trong chất Tiên thiên khí (Akasa), và con người có tiềm năng đọc ký ảnh đó khi ngài tiến hóa đến giai đoạn giác ngộ cá nhân chân chính.”
Trong Devachan, các xúc cảm thuần túy ái dục cùng với những thị hiếu tương tự của phàm ngã đã quá cố sẽ bị rơi rụng trước đó, nhưng ta không được suy ra rằng trạng thái này chẳng bảo tồn được điều gì, ngoại trừ những xúc cảm và tư tưởng liên quan trực tiếp tới tôn giáo hoặc triết lý tâm linh. Ngược lại, mọi hình thức cao siêu ngay cả của những xúc động có tính ái dục đều được phát triển một cách thỏa đáng trong Devachan. Để gợi ra trọn cả một ý tưởng bằng một minh họa cho một linh hồn đang ở Devachan, nếu linh hồn người này rất say mê âm nhạc, thì nó sẽ liên tục ngất ngây do những cảm giác mà âm nhạc tạo ra. Người mà hạnh phúc thuộc loại cao siêu trên trần thế hoàn toàn tập trung vào việc vận dụng tình cảm thì sẽ không bị thiếu sót một ai ở Devachan trong số những người mà y yêu thương. Nhưng người ta ắt hỏi ngay rằng nếu một số những người được yêu thương bản thân họ không thích hợp với Devachan thì biết làm sao bây giờ? Câu trả lời là điều đó không thành vấn đề. Đối với người yêu thương, thì những đối tượng được yêu thương sẽ có mặt. Ta không cần nói nhiều hơn nữa để cung cấp manh mối cho quan điểm này. Devachan là một trạng thái chủ quan trong nội giới. Nó dường như thật chẳng kém gì những cái bàn hay những cái ghế xung quanh ta; nên nhớ rằng trên hết mọi chuyện thì đối với triết lý sâu xa của huyền bí học, những cái bàn, những cái ghế và trọn cả những cảnh tượng khách quan thuộc ngoại giới đều không có thực và chỉ là những điều hão huyền tạm bợ của giác quan. Đối với những người nhập vào trạng thái Devachan, thì các thực tại của cõi này cũng có thực như các thực tại của ngoại giới đối với chúng ta, thậm chí còn có thực hơn nữa kìa.
Do đó suy ra rằng cái sự cô lập trong nội giới của Devachan (thoạt tiên có lẽ là ta quan niệm như vậy) tuyệt nhiên không phải là sự cô lập thực sự như ta hiểu từ này trên cõi trần mà đó là sự đồng hành với tất cả những gì linh hồn đang khao khát, cho dù đó là con người, sự vật hoặc tri thức. Việc kiên nhẫn khảo sát vị trí trong Thiên nhiên của cõi Devachan sẽ cho ta thấy rằng trạng thái cô lập nội giới này của mỗi đơn vị con người là tình trạng duy nhất khiến cho có thể có được bất cứ điều gì mà ta có thể mô tả là một kiếp sống tâm linh cực lạc sau khi chết dành cho loài người nói chung. Cõi Devachan là một trạng thái cực lạc thuần túy và tuyệt đối dành cho bất cứ người nào đạt được nó, cũng giống như Địa ngục A tỳ là trạng thái ngược lại. Không có gì là bất bình đẳng hoặc bất công trong hệ thống này; Devachan tuyệt nhiên không giống đối với một kẻ tốt và một kẻ vô thưởng vô phạt, nhưng nó không phải là một cuộc sống có trách nhiệm và vì vậy ở trong nó không có một chỗ đứng hợp lý nào cho sự đau khổ, cũng như trong Địa ngục A tỳ không có một chỗ nào dành cho sự hưởng lạc hoặc sự hối hận. Đây là một kiếp sống của những hậu quả chứ không phải của những nguyên nhân; một kiếp sống để trả giá cho những gì mà mình gieo gặt chứ không phải lao động để gieo gặt. Vì vậy trong kiếp sống này người ta không thể nhận biết được những gì diễn ra trên cõi trần. Nếu việc nhận biết đó mà xảy ra thì trong tình trạng sau khi chết ắt không thể có hạnh phúc chân thực. Một thiên đường được tạo thành một cái tháp canh mà người đứng trên đó còn có thể quan sát được những nỗi khốn khổ trên trần gian, thì ắt quả thật là một nơi chốn đau khổ cùng cực cho tâm trí đối với những người có nhiều công đức nhất vì đã sống vị tha và đầy thiện cảm. Nếu chúng ta cung cấp cho họ sự tưởng tượng chỉ trong một mức độ đồng cảm rất hạn chế đến nỗi họ sẽ không tưởng tượng hoặc màng đến cái phong cảnh đau khổ mà một vài người có gắn bó trực tiếp với họ sẽ chết đi để rồi gặp lại được họ, thì họ vẫn còn có một thời kỳ rất bất hạnh trông ngóng những người còn sống sót sống nốt cái cuộc đời dài dằng dặc đầy cực nhọc dưới trần thế. Và cho dù cái giả thuyết này không thể đứng vững thêm nữa vì nó làm cho thiên đường trở thành nơi chốn đau khổ đối với những người vị tha nhất và đầy thiện cảm nhất, thì những sự phiền não được phản ánh nơi đó vẫn còn ảnh hưởng tới cái loài người đau khổ nói chung ngay cả sau khi những thân nhân của họ đã được cứu rỗi trong khoảng thời gian nào đó. Lối thoát duy nhất ra khỏi sự tiến thoái lưỡng nan này là phải giả định rằng thiên đường không mở cửa có thể nói là cho việc kinh doanh, và tất cả những người nào đã sống từ thời ông Adam trở đi vẫn còn ở trong tình trạng xuất thần giống như chết ở trên đó để chờ đến ngày phục sinh vào lúc tận thế. Cái giả thuyết này cũng có nhiều chuyện gây lúng túng nhưng bây giờ chúng ta chỉ quan tâm tới sự hài hòa hợp khoa học của Phật giáo bí truyền chứ không phải là các thuyết của những tín ngưỡng khác.
Tuy nhiên, độc giả nào có thể công nhận rằng việc từ thiên đường có thể nhìn thấy cuộc sống trên trần thế ắt khiến cho không thể có được hạnh phúc nơi thiên đường, độc giả đó có thể còn hồ nghi liệu có thể có được hạnh phúc chân chính chăng nơi cái trạng thái mà người ta có thể phản đối là cô lập một cách đơn điệu như ta giờ đây đang mô tả. Lời phản đối này chỉ xuất hiện do người ta tưởng tượng rằng mình không thể thoát khỏi môi trường xung quanh hiện nay. Ta hãy bắt đầu nói tới sự đơn điệu. Chẳng ai phàn nàn rằng mình đã trải qua sự đơn điệu trong những giây phút, hoặc chốc lát hoặc nửa tiếng đồng hồ hoặc có thể được như vậy, hạnh phúc nhất mà mình đã hưởng được trong kiếp sống. Dù sao đi nữa, hầu hết mọi người đều có một số giây phút hạnh phúc để nhớ lại với mục đích so sánh; ta hãy thử xét ngay cả một giây phút hay chốc lát đó (nó quá ngắn ngủi nên không thể bị nghi ngờ là đơn điệu) và tưởng tượng ra rằng những cảm giác của nó được kéo dài vô tận mà không có một diễn biến bên ngoài nào song hành với nó để đánh dấu khoảng thời gian. Trong một tình trạng sự việc như thế thì không có một chỗ đứng nào cho quan niệm về sự buồn chán. Cái cảm giác vô cùng hạnh phúc, tinh nguyên và bất biến đó cứ tiếp diễn nhưng không thể là mãi mãi vì các nguyên nhân tạo ra nó vốn không vô hạn, nhưng cảm giác đó tiếp diễn trong một thời gian rất dài cho đến khi cái xung lực gây ra nó đã bị cạn kiệt.
Ta cũng không được giả sử rằng có thể nói là không có sự thay đổi chú tâm khi linh hồn ở Devachan; nghĩa là bất kỳ một lúc nào của cảm giác trên trần thế mà được chọn lựa thì cứ kéo dài mãi. Một vị đạo sư thuộc thẩm quyền cao cấp nhất về đề tài này có viết như sau:
“Có hai môi trường biểu lộ nhân quả, đó là ngoại giới và nội giới. Các năng lượng thô thiển (vốn tác động trong trạng thái vật chất thô) biểu lộ nơi ngoại giới trong kiếp tới trên cõi trần với hậu quả là một phàm ngã mới dành cho mỗi kiếp sống được xếp đặt trong nội bộ của chu kỳ lớn đang tiến hóa. Chỉ những hoạt động đạo đức và tâm linh mới có môi trường hậu quả là Devachan. Và vì tư tưởng cũng như sự hoang tưởng vốn vô hạn, cho nên làm sao mà ta cãi được rằng có một lúc nào mà có một điều gì đó giống như sự đơn điệu ở trạng thái Devachan? Ít có người nào mà cuộc sống hoàn toàn không xúc cảm, yêu đương hoặc ít nhiều ưu ái một cách mãnh liệt đối với một đường lối tư tưởng nào đó khiến cho y không thích hợp với một thời kỳ tỉ lệ trong kinh nghiệm Devachan vượt ngoài cuộc sống trên cõi trần. Như vậy chẳng hạn như trong khi những thói xấu, những sự thu hút về thể chất và vật dục ví như của một triết gia vĩ đại nhưng là một người bạn xấu và một con người ích kỷ, trong khi những điều trên có thể tạo ra kiếp lai sinh của một trí năng mới còn vĩ đại hơn nữa, thì đồng thời nó cũng tạo ra một con người khốn khổ nhất phải gặt hái những Nghiệp quả của mọi nguyên nhân mà thực thể ‘cũ’ đã tạo ra; thành phần cấu tạo của người mới này tất nhiên phải bao gồm những xu hướng chiếm ưu thế của thực thể trong kiếp trước, còn khoảng thời gian giữa hai kiếp sống trên cõi trần không thể có được theo những định luật đã được điều chỉnh tuyệt vời trong Thiên nhiên, mà chỉ có một sự ngắt quãng vô ý thức. Không thể có cái loại khoảng trống buồn tẻ mà thần học của phái Tin lành trong Ki tô giáo đã hứa hẹn một cách tử tế hoặc đúng hơn là nói bóng gió về ‘những linh hồn quá cố’ mà giữa lúc chết và lúc ‘phục sinh’ phải chịu cảnh treo lơ lửng trong không gian ở trạng thái tê bại về tâm trí để chờ đến ‘Ngày Phán Xét’. Những nguyên nhân do năng lượng tâm trí và tâm linh gây ra còn vĩ đại và có tầm quan trọng hơn những nguyên nhân do các xung động thể chất gây ra, cho nên dù tốt hay xấu thì hậu quả của chúng cũng phải tỉ lệ với nguyên nhân. Các kiếp sống trên trái đất này hoặc một hành tinh khác không cung cấp môi trường thích hợp cho những hậu quả như thế, và mọi người trồng trọt đều phải có quyền được gặt hái vụ mùa của mình, cho nên các hậu quả phải được bành trướng nơi Devachan hoặc nơi A tỳ [[3]]. Chẳng hạn như Bacon, người mà một thi sĩ đã mô tả là:
‘Kẻ xuất sắc nhất, khôn ngoan nhất và đê tiện nhất trong loài người.’
Bacon có thể lại xuất hiện trong kiếp tới với vai trò là một kẻ kiếm tiền tham lam nhưng có những năng lực trí tuệ phi thường. Cho dù trí năng đó cực kỳ vĩ đại đến đâu đi nữa thì chúng cũng không thể có được môi trường thuận lợi để cho cái đường lối tư tưởng đặc thù mà người sáng lập ra triết học hiện đại đã đeo đuổi trong kiếp trước có thể gặt hái được mọi món nợ của mình. Y chẳng qua chỉ là một luật sư quỉ quyệt, một vị Chưởng Khế tham nhũng, một người bạn bạc bẽo và một vị Chưởng Ấn không lương thiện; do Nghiệp quả dẫn dắt y có thể tìm thấy một mảnh đất mới thích hợp nơi cơ thể của một kẻ cho vay tiền để rồi xuất hiện trở lại làm một ông Shylock mới. Nhưng Bacon (tư tưởng gia vô song) mà sự nghiên cứu về triết học đối với những vấn đề thâm thúy nhất trong Thiên nhiên vốn là ‘tình yêu đầu tiên và cuối cùng cũng như duy nhất’ của mình, cái ‘vị thiên tài vĩ đại về trí tuệ của loài người’, một khi đã bị dứt bỏ khỏi phàm ngã thì biết đi đâu bây giờ? Phải chăng mọi hậu quả của cái trí năng siêu phàm đó đã tiêu tan đi rồi biến mất? Chắc chắn là không. Như vậy thì những phẩm chất về đạo đức và tâm linh của ông phải tìm ra được một môi trường để năng lượng của chúng có thể phát triển được. Devachan là một môi trường như thế. Vì vậy mọi kế hoạch vĩ đại cải cách đạo đức, dùng trí tuệ để khảo cứu những nguyên lý trừu tượng của Thiên nhiên, mọi hoài bão tâm linh thiêng liêng vốn làm cho cuộc đời của y có những lúc rực rỡ nhất ắt phải tạo ra kết quả nơi Devachan. Và thực thể trừu tượng mà kiếp trước người ta biết là Francis Bacon còn trong kiếp kế tiếp có thể được biết là một kẻ cho vay nặng lãi đáng khinh bỉ (đó là tạo vật do chính Bacon gây ra, con quỉ Frankenstein của mình, đứa con do Nghiệp báo của mình); trong lúc đó Bacon vẫn còn ở trong nội giới do chính mình chuẩn bị lấy để hưởng những hậu quả của những nguyên nhân vĩ đại có ích lợi về mặt tinh thần mà mình đã gieo trồng trong buổi sinh thời. Nó vẫn còn sống một kiếp sống thuần túy hữu thức về mặt tinh thần, một giấc mơ thực sự sống động cho đến khi Nghiệp đã được thỏa mãn theo chiều hướng đó và đợt sóng lực đã đạt tới bờ bên kia của lưu vực thuộc chu kỳ nhỏ, thì thực thể đó mới di chuyển sang một lãnh vực nguyên nhân kế tiếp trong cõi này hoặc trong cõi khác tùy theo trình độ tiến hóa của mình . . . Vì vậy nơi Devachan có ‘một sự thay đổi chú tâm’ không ngừng thay đổi. Đó là vì cuộc sống giống như mơ này chẳng qua chỉ là kết quả, là lúc gặt hái, những chủng tử tâm linh đã rớt xuống từ cái cây tồn tại trên cõi trần trong những lúc chúng ta mơ mộng và hi vọng; những đợt hoang tưởng thoáng qua về phúc lạc và cực lạc vốn bị bóp nghẹt trong mảnh đất xã hội bạc bẽo thì lại đơm hoa kết trái trong buổi bình minh rực rỡ của Devachan để rồi chín muồi dưới bầu trời bao giờ cũng mang lại kết quả của nó. Nếu con người chỉ có một giây phút duy nhất kinh nghiệm qua lý tưởng đó thì thậm chí cũng không thể giả sử một cách sai lầm rằng Devachan có thể là sự kéo dài vô tận của cái ‘giây phút duy nhất’ đó. Một nốt nhạc duy nhất khi được trổi lên từ cây đàn lyre trong cuộc sống ắt tạo ra nốt chủ âm của trạng thái nội giới của con người và thể hiện thành vô số tông và nửa tông của bản hài âm trong ảo hình tâm linh. Ở nơi đó mọi hi vọng, hoài bão, ước mơ chưa trở thành hiện thực đều được thực hiện trọn vẹn và những ước mơ trên ngoại giới trở thành những thực tại trên kiếp sống nội giới. Ở nơi đó bậc Điểm đạo đồ, vốn đã học được cái bí mật vĩ đại để xuyên thấu vào những Bí ẩn của Tự thể, ắt nhận thức được những dáng vẻ mờ ảo huyền vi của nó đằng sau bức màn Hão huyền. . .”
Cũng như kiếp sống trên cõi trần tích lũy cường độ từ lúc sơ sinh cho tới lúc tuổi thanh xuân, rồi từ đó trở đi giảm dần năng lượng cho tới lúc già cả lú lẫn và chết, cũng vậy cuộc sống mơ mộng nơi Devachan cũng trải ra tương ứng như vậy. Trước hết có cơn xao xuyến ban đầu của kiếp sống tâm linh rồi đạt tới tuổi thanh xuân và dần dần kiệt lực chuyển sang trạng thái hôn thụy hữu thức, bán vô ý thức, lú lẫn và . . . không chết mà lại sinh ra – sinh ra vào trong một phàm ngã khác để bắt đầu hành động trở lại, rồi hàng ngày tạo ra một loạt những nguyên nhân mới, những nguyên nhân này ắt phải được thanh toán trong một kỳ hạn khác nơi Devachan.
Những người phản đối có thể khuyến cáo rằng, “vậy thì nó đâu có phải là thực tại, nó chỉ là một giấc mơ thôi”, “linh hồn bị đắm chìm trong một cảm giác hưởng thụ hão huyền vốn đâu có thực chút nào, vậy là nó bị Thiên nhiên lừa gạt và ắt phải xúc động khủng khiếp khi chợt tỉnh ngộ ra lầm lỗi của mình.” Nhưng xét theo bản chất sự việc thì linh hồn chẳng bao giờ có thể tỉnh ngộ được. Việc tỉnh ngộ ra khỏi Devachan chính là việc sinh vào một kiếp tới trên ngoại giới và lúc đó thì người ta đã ăn cháo lú Sông Mê mất rồi (the draught of Lethe). Xét về sự biệt lập của mỗi linh hồn thì chẳng hề có ý thức về sự biệt lập đó cũng như không thể ý thức được sự chia tay với những người mà mình đã chọn lựa. Những người đồng hành này có bản chất không giống như những người muốn đi đâu là được đi đó hoặc những người bạn có thể chán với những người bạn khác đang yêu thương mình, cho dù người bạn kia không chán mình. Tình yêu vốn là một lực sáng tạo đã đặt cái hình ảnh sống động đó ngay trước mắt của linh hồn con người đang khao khát sự hiện diện của những người bạn đồng hành, vậy thì hình ảnh đó còn chạy đi đâu được nữa.
Về khía cạnh thuộc vấn đề này, tôi lại xin tận dụng bài giảng của Sư phụ tôi:
“Những người phản đối theo kiểu đó chỉ giả định rằng có một sự không cân xứng trong việc giao tiếp giữa các thực thể nơi Devachan, điều này chỉ áp dụng được cho những sự tương quan khi còn sống trên cõi trần! Hai linh hồn có thiện cảm với nhau và cả hai đều đã bỏ xác thì mỗi linh hồn sẽ tạo ra cảm giác Devachan của riêng mình, và khiến cho linh hồn kia chia xẻ với mình cái cảnh cực lạc nội giới đó. Dĩ nhiên là điều này cũng có thực đối với họ như thể cả hai vẫn còn ở trên trần thế. Tuy nhiên, mỗi linh hồn lại tách biệt với linh hồn kia xét về sự liên kết phàm nhơn hoặc thể chất. Trong khi sự liên kết về thể chất là mối liên kết duy nhất mà kinh nghiệm trên cõi trần chúng ta coi là một quan hệ có thực thì đối với những người nhập Devachan, điều này chẳng những không có thực mà tự thân nó không tồn tại được theo ý nghĩa nào đó cho dù chỉ là một ảo giác vì thể xác hoặc ngay cả một Ảo thân (Mayavi-rupa) đối với các giác quan tâm linh cũng vô hình giống như ảo thân đối với giác quan vật chất của những người yêu mến nhau nhất trên cõi trần. Như vậy cho dù một trong ‘những người chia xẻ tình cảm’ đó vẫn còn sống và hoàn toàn không có ý thức được mối liên giao đó trong trạng thái tỉnh thức, thì đối với người nhập Devachan mọi mối liên giao với người kia vẫn là một thực tại tuyệt đối. Cái sự đồng hành có thực đó nào khác chi cái sự đồng hành thuần túy duy tâm mà ta vừa nêu trên giữa hai thực thể nơi nội giới được cấu tạo bằng loại vật chất thậm chí cũng không giống như cái bóng dáng tinh anh được gọi là Ảo thân? Việc phản đối dựa vào lập luận rằng người ta bị ‘Thiên nhiên lừa gạt’ và coi đó là ‘một cảm giác hưởng thụ hão huyền không có thực’ thì chỉ cho người ta thấy rằng mình hoàn toàn không hiểu được tình trạng sống và tồn tại bên ngoài kiếp sống vật chất. Đó là vì làm sao ta có thể phân biệt được nơi Devachan (nghĩa là ở bên ngoài tình trạng sống nơi cõi trần) giữa điều mà ta gọi là một thực tại và một bản sao giả tạo hoặc nhân tạo cũng của thực tại đó trên cõi trần? Ta không thể áp dụng cùng một nguyên tắc cho hai tập hợp tình huống. Liệu ta có thể quan niệm được cái mà ta gọi là một thực tại khi ta đang nhập thể trên cõi trần lại cũng tồn tại trong một tình trạng giống hệt như vậy đối với một thực thể đã thoát xác chăng? Trên trần thế con người vốn lưỡng tính theo nghĩa y là một sự vật có tính vật chất cùng với một sự vật có tính tinh thần; vì thế cho nên tâm trí của y (vốn phân tích được những cảm giác thể chất và những nhận thức tâm linh của mình) tự nhiên là mới phân biệt được giữa một điều có thực và một điều hư cấu. Mặc dù vậy, ngay cả trong khi còn sống hai nhóm năng lực này thường xuyên cân bằng với nhau, khi một nhóm chiếm ưu thế, thì nhóm này coi như là hư cấu hoặc hão huyền những điều mà nhóm kia tin là có thực nhất. Thế nhưng nơi Devachan, Bản ngã của ta không còn lưỡng tính nữa theo nghĩa nêu trên mà trở thành một thực thể trí tuệ, tâm linh. Điều vốn được coi là một hư cấu, một mơ ước trong buổi sinh thời và chỉ tồn tại trong cõi ‘hoang tưởng’, thì trong tình huống hiện tồn mới lại trở thành thực tại duy nhất có thể có. Như vậy đối với chúng ta giả định rằng có thể có bất kỳ thực tại nào khác đối với một người nhập Devachan thì chính là chủ trương một điều phi lý, một sự trá ngụy kỳ quặc, một ý tưởng phản triết học cùng cực. Điều có thực là điều quả thực được tác động hoặc hoàn thành: ‘thực tại của một sự việc được chứng tỏ qua việc nó có thực’. Và cái sự tồn tại theo giả định và nhân tạo không thể có được nơi trạng thái Devachan cho nên hệ quả luận lý của điều này chính là việc mọi sự vật nơi Devachan đều có thực. Đó là vì cho dù vẫn hộ trì cho năm nguyên khí trong khi phàm ngã còn sống hoặc đã hoàn toàn cách ly khỏi những nguyên khí thấp vào lúc thể xác tan rã, thì nguyên khí thứ sáu tức ‘Hồn Thiêng’ của ta cũng không có chất liệu, nó vốn Vô sắc tướng (Arupa) cho nên không bị hạn chế vào một nơi chốn nào đó trong một phạm vi hạn hẹp mà ta có thể nhận thức được. Vì vậy cho dù ở trong hay ở ngoài xác phàm thì bao giờ nó cũng biệt lập và không bị xác phàm hạn chế. Nếu ta gọi kinh nghiệm nơi Devachan của nó là ‘một sự lừa gạt của Thiên nhiên’, thì ta cũng không bao giờ được phép gọi là ‘thực tại’ bất cứ xúc cảm trừu tượng thuần túy nào vốn hoàn toàn thuộc về linh hồn cao cả của ta để rồi được phản ánh và đồng hóa bởi chính nó, chẳng hạn như đó là một nhận thức lý tưởng về điều mỹ lệ, về lòng thương người sâu sắc, về tình thương v. v. . . cũng như mọi cảm giác thuần túy tâm linh khác mà trong buổi sinh thời đã làm cho nội tâm của ta đầy ắp những niềm vui vô tận cũng như nỗi khổ triền miên.”
Chúng ta phải nhớ rằng do chính bản chất của hệ thống mô tả nêu trên thì có vô số sự phúc lạc nơi Devachan tương ứng với vô số phúc đức của loài người. Nếu “cõi bên kia” thực sự là cõi thiên đường ngoại giới mà thần học thông thường rao giảng, thì việc vận hành của nó ắt gây ra đủ thứ bất công và thiếu chính xác. Trước hết thì người ta hoặc là phải nhận vào hoặc là phải trục xuất người này người nọ, và những sự phân biệt đối xử đó đối với những người khách khác nhau bên trong chính cái cõi lẽ ra phải ưu đải tất cả ắt không thể nào đủ cung ứng được cho những sự khác nhau về phúc đức trên cõi trần. Nhưng cõi thiên đường thực của trái đất thích ứng được với mọi nhu cầu và phúc đức của mỗi người mới đến một cách hoàn toàn chính xác. Chẳng những xét về thời gian kéo dài trạng thái cực lạc (vốn được xác định do những nguyên nhân được sản sinh ra trong khi còn sống nơi ngoại giới) mà xét về cường độ cũng như biên độ của những xúc cảm tạo thành trạng thái cực lạc đó, thì cõi thiên đường của mỗi người đủ tư cách đạt đến nó chính xác thích ứng với khả năng hưởng thụ của y. Nó là sản phẩm do những hoài bão và năng lực của chính y tạo ra. Người không được điểm đạo chẳng thể nào hiểu hơn được tới mức này. Nhưng việc nêu ra những đặc tính của nó cũng đủ cho thấy nó hoàn toàn có một vị trí xứng đáng trong trọn cả cơ tiến hóa.
Tôi xin tiếp tục trích dẫn tiếp: “Dĩ nhiên Devachan là một trạng thái chứ không phải là nơi chốn, chẳng khác nào A tỳ là phản đề của nó (làm ơn đừng lẫn lộn A tỳ với địa ngục). Triết lý của Phật giáo Bí truyền dạy rằng có ba cõi chính được gọi là: 1. Dục giới (Kama loka); 2. Sắc giới (Rupa loka); 3. Vô Sắc giới (Arupa loka) dịch theo nghĩa đen nó có nghĩa là, 1. thế giới của những dục vọng hoặc đam mê, của những khao khát trần tục chưa được thỏa mãn, nơi trú ngụ của các ‘Ma hình’, những Kẻ bất đắc kỳ tử, những Âm ma và những Kẻ tự tử; 2. thế giới của các hình tướng nghĩa là các hình ảnh có tính cách tâm linh hơn, có hình dạng và có tính khách quan nhưng không có chất liệu; 3. thế giới không có hình tướng hoặc đúng hơn là thế giới của những điều không có hình tướng, không có hình thể vì cư dân của nó không thể có cơ thể, hình hài, hoặc màu sắc giống như những người phàm tục chúng ta theo cái nghĩa mà chúng ta gán cho những từ này. Đây là ba cõi có tính linh tăng dần thu hút được nhiều nhóm thực thể nội giới và bán nội giới. Ngoại trừ những kẻ tự tử và những kẻ bất đắc kỳ tử thì tùy theo hấp lực và năng lực của mình, mọi người đều nhập vào hoặc là Devachan hoặc là A tỳ; hai trạng thái này tạo thành vô số trạng thái nhỏ của các cõi Sắc giới và Vô Sắc giới, nghĩa là những trạng thái đó chẳng những biến thiên về mức độ hoặc về sự trình hiện đối với thực thể là chủ thể khi xét về hình dạng, màu sắc v .v . . . mà còn có vô số những giai bậc của những trạng thái như thế với tính linh tăng dần và xúc cảm mạnh dần lên, kể từ trạng thái thấp nhất nơi Sắc giới lên mãi tới trạng thái cao nhất và siêu việt nhất nơi Vô Sắc giới. Sinh viên phải nhớ kỹ rằng, phàm ngã vốn đồng nghĩa với hạn chế và những ý tưởng của con người mà càng ích kỷ và càng hạn hẹp bao nhiêu, thì y càng bám khư khư bấy nhiêu lấy những cõi tồn tại thấp và y càng lần lữa bấy nhiêu nơi cõi giao tiếp ích kỷ.”
Devachan là một tình trạng chỉ hưởng thụ trong nội giới; thời gian kéo dài và cường độ của nó được xác định theo phúc đức và tính linh của kiếp sống đã qua trên trần thế, cho nên khi linh hồn ở trong đó, không có cơ hội nào để trừng phạt đúng mức những hành vi ác độc. Nhưng Thiên nhiên không bắng lòng hoặc tha tội một cách thoải mái dễ dàng, hoặc là đày đọa người phạm tội ngay tức khắc, giống một ông chủ vì quá nhát nhúa hơn là vì quá tốt bụng nên không thể cai quản căn nhà của mình đúng mức được. Ác Nghiệp cho dù lớn hay nhỏ thì chắc chắn là cũng tác động vào đúng lúc giống như thiện Nghiệp. Nhưng nơi chốn tác động của nó không phải là Devachan hoặc trong một kiếp tái sinh mới mà là nơi A tỳ, một trạng thái mà ta chỉ đạt được trong những trường hợp ngoại lệ do những người có bản tính ngoại lệ. Nói cách khác, trong khi người phạm tội thông thường sẽ gặt quả của những hành vi độc ác của mình trong một kiếp sau đó, thì kẻ phạm tội ngoại lệ, kẻ quí tộc phạm tội thì sẽ có viễn ảnh là A tỳ, nghĩa là tình trạng nội giới khốn khổ về mặt tâm linh vốn là mặt trái của Devachan.
“A tỳ là một trạng thái độc ác tâm linh lý tưởng nhất, một điều gì đó giống như trạng thái của Ma vương (Lucifer) mà Milton đã miêu tả một cách tuyệt vời xiết bao. Mặc dù vậy, độc giả biết suy tư ắt nhận thấy rằng chẳng bao nhiêu người có thể tiến tới trạng thái đó. Và nếu người ta đề xuất rằng vì hầu hết mọi người đều được hưởng Devachan, cho dù họ tốt hay xấu, hoặc vô thưởng vô phạt; cho nên kết quả của sự hài hòa và quân bình thật là đáng thất vọng, luật báo phục công bằng vô tư một cách khắc khe hầu như khó được thỏa mãn bởi việc tương đối hiếm hoi nếu không phải là thiếu vắng phản đề của nó; nếu thế thì câu trả lời sẽ chứng tỏ rằng không phải như thế đâu. Triết gia Trung Hoa có bảo rằng ‘Điều Ác là đứa con trai hư của Trần thế (Vật chất), còn Điều Thiện là đứa con gái ngoan của Thiên đường’ (tức Tinh thần); vì thế cho nên nơi chốn để trừng phạt hầu hết các tội lỗi của chúng ta chính là trần thế, nơi nó sinh ra và đùa giởn ở đó. Ngay cả trên trần thế mà có nhiều điều ác biểu kiến và tương đối hơn là sự thật và đại chúng không có xu hướng ngày nào cũng đạt tới cái mức quá độ chết người của một ‘Sa tăng’.
Nói chung thì việc tái sinh để tồn tại nơi ngoại giới là biến cố mà ác Nghiệp kiên nhẫn chờ đợi; lúc bấy giờ nó khẳng định mà không điều gì chống cự được cho dù thiện Nghiệp có cạn kiệt nơi Devachan và bỏ mặc cho chơn thần bất hạnh phát triển một tâm thức mới mà không có một vật liệu nào vượt quá mức những hành vi độc ác của phàm ngã trong kiếp vừa qua. Sự tái sinh có đặc tính là phước cũng như tội của kiếp trước, nhưng kiếp sống nơi Devachan là một giấc mơ êm đềm, một đêm ngon giấc với những mộng mị không sống động gì hơn ban ngày và kéo dài bất diệt trong nhiều thế kỷ.
Ta ắt thấy rằng trạng thái Devachan chỉ là một trong những hoàn cảnh sống vốn là thành phần của trọn cả biểu lộ tâm linh hoặc sự bổ túc tương đối có tính chất tâm linh của kiếp sống trên trần thế. Những người quan sát hiện tượng thần linh học ắt chẳng bao giờ phải phân vân (họ thường bị như vậy) nếu không có tình trạng nào khác ngoài tình trạng Devachan mà họ có dính dáng tới. Đó là vì một khi đã nhập Devachan, thì có rất ít cơ hội để liên lạc với một vong linh lúc bấy giờ đã hoàn toàn say đắm với những cảm giác riêng của mình và hầu như quên bẳng mất trần thế bị bỏ lại đằng sau cùng với những người bạn trước kia vẫn còn sống trên trần thế. Cho dù đã quá cố hoặc còn sống trên trần thế, nếu mối dây liên lạc về tình cảm vẫn còn đủ mạnh, thì những người bạn này vẫn kề cận với vong linh có diễm phúc, chia xẻ những ý định và chủ đích của y, họ cũng hạnh phúc đầy cực lạc và ngây thơ như chính kẻ đang mơ mộng đã bỏ xác. Tuy nhiên những người còn sống cũng có thể có được linh ảnh về Devachan, mặc dù những linh ảnh như vậy thật hiếm hoi và chỉ là biên kiến, những thực thể nơi Devachan mà thần nhãn ở trên cõi trần thấy được hoàn toàn không có ý thức là mình bị quan sát như thế. Chơn linh của nhà thần nhãn thăng lên tới tận tình trạng Devachan trong những linh ảnh hiếm hoi như thế, và thế là họ cũng chịu những hão huyền sống động của kiếp sống đó. Người ta có cảm tưởng rằng các vong linh vốn liên kết bằng thiện cảm nơi cõi Devachan đã giáng trần trong khi thực ra thì ngược hẳn lại. Chơn linh của nhà thần nhãn đã thăng lên tới tận chơn linh của người nhập Devachan. Như vậy nhiều sự liên lạc tâm linh trong nội giới (hầu hết xảy ra khi những người nhạy cảm có tâm trí thanh tịnh) là có thực, mặc dù là người đồng cốt chưa được điểm đạo rất khó ghi nhớ được những hình ảnh chân thực và chính xác về những điều mà y thấy và nghe được. Cũng vậy một số hiện tượng tên gọi là cơ bút (mặc dù còn hiếm hơn nữa) cũng có thực. Có thể nói rằng chơn linh của người nhạy cảm đã bị đê mê do hào quang của vong linh ở nơi Devachan cho nên trong một vài phút ngắn ngủi người nhạy cảm đã trở thành cái phàm ngã đã quá cố đó, viết theo kiểu chữ viết tay của người kia, nói theo ngôn ngữ và tư tưởng của người kia như thể người kia đang còn sống vậy. hai chơn linh đã hòa nhập làm một, và sự ưu thắng của chơn linh này đối với chơn linh kia trong những hiện tượng như thế sẽ xác định sự ưu thắng của những đặc tính phàm ngã đang biểu hiện ra. Như vậy ta nhân tiện có thể nhận xét rằng điều được gọi là sự đồng cảm, nói trắng ra chỉ là sự đồng nhất về rung động phân tử giữa phần tinh vi của người đồng cốt đang nhập thế với phần tinh vi của phàm ngã đã xuất thế.
Trên kia ta có nêu rõ điều mà lương tri cũng cho thấy rằng có đủ trạng thái nơi Devachan, và mỗi phàm ngã sẽ lọt vào đúng cái vị thế thích hợp với mình. Do đó từ cái vị thế thích hợp này y sẽ xuất lộ vào trong thế giới nguyên nhân tức là trái đất này hoặc một nơi khác (có thể xảy ra trường hợp đó) khi đã đến lúc tái sinh. Khi kết hợp với sự sống còn của những ái lực mà người ta mô tả một cách bao quát là Nghiệp tức là những ái lực về cả điều thiện lẫn điều ác do kiếp trước sản sinh ra, thì ta ắt thấy tiến trình này hầu như đã giải thích được cái vấn đề luôn luôn bị coi là không thể hiểu nỗi tức là những bất công trên đời. Tình huống mà dựa vào đó ta vào đời chính là hậu quả của việc ta sử dụng cái tình huống trong kiếp trước. Chúng không hề phát triển thêm Nghiệp mới (cho dù Nghiệp mới là gì đi chăng nữa) vì Nghiệp mới sẽ được sản sinh ra qua việc ta sử dụng những tình huống cũ. Nhưng ta không được giả sử rằng mọi biến cố của dòng sống mang lại cho ta vui hay buồn đều là hậu quả của Nghiệp cũ. Những hậu quả ngay tức khắc của những hành vi trong kiếp mà ta đang trải qua có thể chịu trách nhiệm về nhiều biến cố nêu trên. Đó có thể nói là những giao dịch tiền trao cháo múc với Thiên nhiên khiến cho Thiên nhiên hầu như không ghi nợ trong sổ sách của mình. Nhưng những bất công lớn trong cuộc đời (xét về khởi điểm mà nhiều người khác nhau phải chịu) là hậu quả rõ ràng của Nghệp cũ mà vô số loại này vẫn cứ luôn luôn cung cấp liên tục tân binh cho mọi tình huống của con người.
Ta cũng không được giả sử rằng ngay sau khi chết, Chơn ngã sẽ buông bỏ ngay kiếp sống trần thế cùng với những rối rắm của nó để nhập vào trạng thái Devachan. Khi sự phân chia tức là sự tẩy trược nguyên khí thứ năm đã hoàn thành nơi Kama loka do sự tranh chấp về hấp lực giữa nguyên khí thứ tư và thứ sáu (tác động lên nguyên khí thứ năm) thì Chơn ngã chuyển vào một thời kỳ tụ sinh vô ý thức. Trước kia tôi đã nói tới cách thức trong đó kiếp sống nơi Devachan trải qua tiến trình tăng trưởng, trưởng thành rồi suy thoái; nhưng nó còn bảo tồn được những điều tương tự trên trần thế hơn nữa kia. Có một trạng thái tâm linh tiền sinh sản trước khi nhập vào đời sống tinh thần, cũng như có một tình trạng vô ý thức về cõi trần trước khi nhập vào sự sống nơi ngoại giới. Trong nhiều tình huống khác nhau, thời kỳ này có thể kéo dài rất khác nhau từ một vài phút cho tới thời kỳ kéo dài dằng dặc nhiều năm. Khi một người chết đi, hồn của y tức nguyên khí thứ năm trở nên vô ý thức và không còn nhớ được gì về những điều nơi nội giới cũng như ngoại giới. Cho dù thời kỳ y ở Kama loka chỉ kéo dài vài phút, vài giờ, vài ngày, vài tuần, vài tháng hoặc vài năm; cho dù y chết tự nhiên hay chết bất đắc kỳ tử, cho dù y chết già hay chết trẻ và cho dù Bản ngã của y tốt hay xấu, hay vô thưởng vô phạt, thì tâm thức đột ngột rời bỏ y cũng giống như ngọn lửa rời bỏ cái bấc đèn khi nó bị thổi tắt phụt. Khi sự sống đã rút ra khỏi phần tử cuối cùng của vật chất tạo nên bộ óc thì năng lực nhận thức của y biến mất mãi mãi, năng lực tâm linh về nhận biết và ý chí của y nhất thời cũng biến mất như những năng lực khác. Y có thể phóng chiếu cái Ảo thân (Mayavi rupa) của mình xuất hiện nơi ngoại giới như trong trường hợp hiện hình sau khi chết, nhưng nếu nó không được phóng chiếu ra bởi một ý muốn đầy ý thức và mạnh mẽ để thăm viếng hoặc xuất hiện trước một người khác thì khi nó phóng ra khỏi cái bộ óc đang hấp hối, sự hiện hình này chỉ là tự động. Dĩ nhiên, qua những điều mà ta vừa nói, sự phục hồi ý thức nơi Kama loka là một hiện tượng còn tùy thuộc vào đặc tính của những nguyên khí đã thoát ra khỏi cái xác đang hấp hối vào lúc đó một cách vô ý thức. Ý thức này có thể trở nên khá hoàn chỉnh trong những hoàn cảnh mà tuyệt nhiên không đáng mong muốn, hoặc nó có thể phai mờ đi do việc nhanh chóng chuyển sang trạng thái tụ sinh dẫn tới Devachan. Trạng thái tụ sinh này có thể kéo dài rất lâu tỉ lệ với nghị lực tâm linh của Bản ngã, và Devachan chính là phần còn lại của thời kỳ diễn ra giữa lúc chết và lúc tái sinh vào kiếp tới trên cõi trần. Trọn cả thời kỳ này cố nhiên là thay đổi rất nhiều về thời gian kéo dài đối với những người khác nhau, nhưng nghe nói hầu như không thể có được sự tái sinh trong vòng ít hơn 1500 năm, và thời kỳ ở nơi Devachan để thưởng cho một Nghiệp rất phong phú nghe đâu đôi khi kéo dài rất lâu.
CHÚ GIẢI
Những phần bình luận mà tôi phải nêu ra về giáo lý được thể hiện qua chương nêu trên tốt nhất là nên được hoãn lại cho tới cuối chương kế tiếp và nó sẽ được trình bày kết hợp với những tình trạng áp dụng cho Kama loka.