17/6/14

Phật giáo bí truyền – Thông Thiên Học (Kỳ 7): Làn sóng tiến hóa của con người

Ta đã tường trình tổng quát về cách thức mà đợt sóng sinh hoạt tiến hóa lớn quét vòng vòng qua bảy thế giới hợp thành dãy hành tinh mà trái đất của ta là một phần của nó. Bây giờ ta có thể trợ giúp thêm nữa nhằm mở rộng ý niệm tổng quát này để người ta có thể hiểu rõ hơn những tiến trình liên quan tới nó. Và dù có thêm một chương nữa trong câu chuyện dài dằng dặc này, thì cũng không thể làm cho tính chất của nó dễ hiểu hơn nếu không giải thích một vài hiện tượng liên quan tới sự tiến hóa của các thế giới mà ta có thể tạm gọi là sự qui nguyên (obscuration).
Những sinh viên triết học huyền bí theo đuổi đề tài này mà tâm trí còn đầy ắp những thông tin theo chiều hướng khác rất có thể sẽ hiểu lầm những phát biểu trước kia. Người ta không nói tất cả mọi việc ngay một lúc, và việc thoạt tiên đưa ra những lời giải thích chung chung có thể gợi ra những quan niệm về các chi tiết có lẽ là sai lầm đối với những người suy nghĩ thông minh và có tâm trí hoạt động tích cực nhất. Những bạn đọc như thế không bằng lòng với những nét phác họa lờ mờ dù là chỉ trong phút chốc thôi. Trí tưởng tượng của họ lấp đầy bức tranh đó và nó cứ hoạt động đều đều không bị trở ngại trong một thời gian lâu dài, thì sau này người tưởng tượng ắt sẽ lấy làm sửng sốt khi phát hiện ra rằng những thông tin về sau không tương thích với thông tin mà y tưởng mình đã được dạy minh bạch ngay từ đầu. Thế mà trong bộ khảo luận này, tác giả chỉ cố gắng truyền đạt thông tin sao cho nó có thể ngăn ngừa đến mức tối đa đám cỏ dại vội vả mọc lên trong tâm trí của bạn đọc; nhưng chính việc nỗ lực như thế đôi khi cũng cần phải vọt lên phía trước bỏ qua một số chi tiết (thậm chí những chi tiết rất quan trọng) để cho người ta sẽ thu hoạch được trong cuộc hành trình thứ nhì đi qua vùng đất xưa cũ. Như vậy, giờ đây độc giả đã được trang bị đủ để trở lại với việc giải thích chương III nói về tiến trình tiến hóa xuyên qua trọn cả dãy hành tinh.
Lúc bấy giờ, người ta có nói một vài lời liên quan tới cách thức mà xung lực sinh hoạt chuyển từ hành tinh này sang hành tinh khác theo kiểu “tuôn tràn hoặc phun vọt chứ không phải là dòng chảy liên tục đều đều.” Thế mà cho đến nay diễn trình tiến hóa trong những giai đoạn đầu vẫn liên tục để cho việc chuẩn bị bảy hành tinh đón tiếp đợt sóng triều cuối cùng của nhân loại có thể được tiến triển một cách đồng thời. Thật vậy, vào một giai đoạn nào đó trong diễn trình, việc chuẩn bị tất cả nhiều hành tinh có thể tiến triển cùng một lúc, nhưng điều quan trọng chúng ta cần phải nhớ đó là: ở một giai đoạn nào đó, làn sóng tiến hóa chủ yếu (tức là làn sóng tiên phong) không thể ở nhiều hơn một chỗ. Tiến trình tiếp diễn theo cách mà giờ đây ta có thể mô tả và độc giả có thể theo dõi được thuận tiện hơn nếu y vẽ trong giấy hoặc phác họa trong tâm trí mình một giản đồ bao gồm bảy vòng tròn (biểu diễn các thế giới) sắp xếp trên một vòng cung. Nếu gọi chúng là A, B, C, v. v. . . thì từ những điều đã được xác định trước kia ta ắt nhận xét rằng vòng tròn tức bầu hành tinh D tượng trưng cho trái đất của ta. Thế mà nên nhớ rằng theo sự hiểu biết của các huyền bí gia thì có bảy giới trong Thiên nhiên, ba giới có liên quan tới các lực tinh anh của ngũ hành vốn có trước giới vật chất thô trược trong thứ tự phát triển. Giới thứ nhất tiến hóa trên bầu hành tinh A rồi và chuyển sang bầu hành tinh B thì giới thứ nhì mới bắt đầu tiến hóa trên bầu A. Nếu tiếp tục thực hiện hệ thống này thì dĩ nhiên ta sẽ thấy rằng khi giới thứ nhất đang tiến hóa trên bầu G thì giới thứ bảy tức là giới nhân loại đang tiến hóa trên bầu A. Nhưng vậy thì điều gì sẽ xảy ra khi giới thứ bảy chuyển sang bầu B? Đâu có giới thứ tám nào dấn thân vào hoạt động trên bầu A. Diễn trình tiến hóa lớn lao đạt đỉnh cao nơi làn sóng triều cuối cùng tức là nhân loại; khi nó tiến hóa thì sẽ để lại đằng sau một sự hôn thụy tạm thời của Thiên nhiên. Thật vậy, khi làn sóng sinh hoạt tiếp diễn trên bầu B thì trong một thời gian nào đó bầu A chuyển vào trạng thái qui nguyên. Trạng thái này không phải là hủy hoại, tan rã hoặc bất cứ điều gì mà ta có thể gọi một cách thích đáng là chết. Bản thân sự hủy hoại (mặc dù khía cạnh này thường làm cho tâm trí hiểu lầm) lả một tình trạng hoạt động theo một chiều hướng khác, chính nhận xét này sẽ cung cấp cho ta manh mối về ý nghĩa của nhiều điều mà nếu xét khác đi thì thần thoại học của Ấn Độ sẽ trở nên vô nghĩa khi nói tới các vị thần linh chủ trì sự tiêu diệt. Sự qui nguyên của một thế giới chỉ là việc hoàn toàn đình trệ mọi hoạt động của nó; điều này không có nghĩa là cái lúc mà chơn thần cuối cùng của loài người chuyển ra khỏi một bầu thế giới cho sẵn nào, thì thế giới đó sẽ bị tê liệt do một tai biến nào đó hoặc chìm vào tình trạng xuất thần đê mê giống như công chúa ngủ trong rừng. Cuộc sống của loài động vật và thực vật vẫn tiếp diễn trong một thời gian giống như trước kia, nhưng sinh hoạt này mang tính cách suy thoái thay vì là tiến bộ. Vì đợt sóng sinh hoạt vĩ đại đã rời bỏ thế giới này cho nên các giới động vật và thực vật dần dần trở lại tình trạng nguyên thủy khi lần đầu tiên làn sóng sinh hoạt vĩ đại đó tiếp xúc với chúng. Phải mất một thời gian rất lâu thì tiến trình chậm chạp khiến cho thế giới bị qui nguyên mới yên ngủ được, vì ta ắt thấy rằng trong bất kỳ trường hợp nào, sự qui nguyên cũng dài gấp 6 lần [[4]] thời kỳ mà mỗi thế giới tiếp nhận làn sóng sinh hoạt nhân loại. Điều này có nghĩa là tiến trình được hoàn thành như nêu trên liên quan tới việc làn sóng sinh hoạt chuyển từ bầu A sang bầu B, tiến trình đó được lập lại suốt cả dãy hành tinh. Khi làn sóng chuyển sang bầu C thì bầu B lại bị qui nguyên giống như bầu A. Thế rồi bầu D nhận được làn sóng sinh hoạt, còn các bầu A, B, C, đều bị qui nguyên. Khi làn sóng đạt tới bầu G, thì tất cả sáu bầu thế giới trước nó đều bị qui nguyên. Trong khi đó làn sóng tiến hóa vẫn tiếp tục một sự tiến hóa đều đặn nào đó mà tính chất đối xứng của nó thỏa mãn hoàn toàn những người có óc khoa học. Độc giả đã được chuẩn bị để tiếp thu ý kiến này ngay tức khắc khi xét về những lời giải thích đã được đưa ra về việc nhân loại tiến hóa qua bảy giống dân chính trong mỗi cuộc tuần hoàn trên một bầu hành tinh, nghĩa là trong khi hành tinh đó bị làn sóng triều sinh hoạt chiếm ngự. Giống dân thứ tư hiển nhiên là giống dân ở giữa của một loạt bảy giống dân. Ngay khi điểm giữa này đã đạt được thì cuộc tiến hóa của giống dân thứ năm trên bất kỳ hành tinh cho sẵn nào sẽ bắt đầu để chuẩn bị nhân loại cho cuộc tiến hóa trên bầu hành tinh kế tiếp. Chẳng hạn như sự tiến hóa của giống dân thứ năm trên bầu E cân xứng với sự tiến hóa (hoặc đúng hơn là sự hồi sinh) của giới khoáng vật trên bầu D v. v. . . Điều này có nghĩa là sự tiến hóa của giống dân thứ sáu trên bầu D trùng với sự hồi sinh của giới thực vật trên bầu E, còn sự tiến hóa của giống dân thứ bảy trên bầu D trùng hợp với sự hồi sinh của giới động vật trên bầu E. Thế rồi khi phần tử cuối cùng của giống dân thứ bảy trên bầu D đã chuyển vào trạng thái nơi nội giới tức là thế giới hậu quả, thì chu kỳ nhân loại trên bầu E bắt đầu và giống dân thứ nhất bắt đầu phát triển ở đó. Trong khi ấy thì thời kỳ hoàng hôn của thế giới có trước bầu D đã chìm sâu vào đêm đen qui nguyên của diễn trình tiến hóa đó, vì sự qui nguyên ở đó đã dứt khoát bắt đầu khi chu kỳ nhân loại trên bầu D vượt qua mức nửa đường. Nhưng cũng như tim của một người vẫn đập và sự hô hấp của y vẫn tiếp tục cho dù y ngủ say đến đâu đi nữa; cũng vậy, nơi một thế giới đang yên nghỉ ngay cả trong khi ngủ say sưa nhất thì vẫn phải có những tiến trình có quan hệ sống còn tiếp tục. Và khi xét tới việc làn sóng nhân loại sẽ trở về trong dịp tới thì những tiến trình có tầm mức sống còn này bảo toàn được thành quả của cuộc tiến hóa trước khi nó đã bắt đầu. Việc phục hồi một hành tinh để cho nó thức tỉnh trở lại ắt là một quá trình lớn lao hơn việc làm cho nó lắng chìm vào sự yên nghỉ vì khi làn sóng sinh hoạt nhân loại trở lại thì nó phải đạt tới một trình độ hoàn thiện cao hơn lúc mà nó rời bỏ bầu thế giới đó để theo chân làn sóng sinh hoạt đi tới bờ bên kia. Nhưng cứ mỗi một lần bắt đầu trở lại thì Thiên nhiên lại được cấp thêm một sức sống (sự tươi mới của buổi sáng) để đến chu kỳ qui nguyên sau này nó lại có một thời kỳ chuẩn bị và hi vọng vì đã được cung cấp cho một đà sống mới. Vào lúc mà làn sóng sinh hoạt lớn lao trở lại, thì tất cả đều sẵn sàng tiếp đón nó.
Trong phần khảo luận đầu tiên về đề tài này, ta đã phát biểu đại khái rằng đủ thứ thế giới hợp thành dãy hành tinh của chúng ta không có cùng một tính vật chất giống như nhau. Nếu ta coi tinh thần là cực bắc của vòng tròn, còn vật chất là cực nam thì các thế giới của vòng cung đi xuống ắt thay đổi về tính vật chất và tính linh cũng giống như các thế giới của vòng cung đi lên. Bây giờ ta phải xem xét sự biến thiên này một cách chăm chú hơn nữa thì mới hòng thấu hiểu được trọn cả diễn trình tiến hóa một cách toàn triệt hơn bao giờ hết.
Ngoài trái đất ra (nó vốn ở điểm vật chất thấp nhất) còn có hai thế giới khác thuộc dãy hành tinh của ta mà mắt phàm có thể thấy được: thế giới đằng sau trái đất và thế giới ở phía trước trái đất. Thật vậy, hai thế giới này chính là Hỏa tinh và Thủy tinh (Hỏa tinh ở phía đằng sau chúng ta, còn Thủy tinh ở phía đằng trước); hiện nay Hỏa tinh đang ở tình trạng hoàn toàn qui nguyên xét về làn sóng sinh hoạt nhân loại, còn Thủy tinh chỉ vừa mới bắt đầu chuẩn bị cho chu kỳ nhân loại kế tiếp [[5]].
Hai hành tinh thuộc dãy hành tinh của ta vốn ở sau Hỏa tinh và hai hành tinh ở trước Thủy tinh có thành phần cấu tạo là một loại vật chất mà các kính thiên văn không thể nhận biết được. Như vậy bốn trong số bảy hành tinh có bản chất tinh anh mà những người chỉ quan niệm được dưới dạng trần thế ắt có khuynh hướng gọi là phi vật chất. Nhưng chúng tuyệt nhiên không phải là phi vật chất. Chúng chỉ là một trạng thái vật chất tinh vi hơn vật chất của trái đất, nhưng trạng thái tinh vi này tuyệt nhiên không làm cho bảng thiết kế của Thiên nhiên mất đi tính đồng dạng liên quan tới các phương pháp và các giai đoạn tiến hóa của chúng. Trong phạm vi “vô hình” tinh vi của chúng, các cuộc tuần hoàn và các giống dân liên tiếp vẫn cứ trải qua các giai đoạn có tính vật chất thô trược hoặc tinh vi hơn so với trái đất; nhưng ai muốn hiểu được chúng thì trước hết phải hiểu được trái đất này rồi mới biết được những hiện tượng tinh vi của chúng bằng cách suy diễn theo phép tương ứng. Vì vậy chúng ta hãy quay về xem xét lại làn sóng sinh hoạt lớn lao với đủ mọi khía cạnh trên hành tinh này.
Cũng như dãy thế giới được coi là một thể thống nhất với các cực nam và cực bắc tức là cực vật chất và cực tinh thần, tiến từ cực tinh thần xuống cực vật chất rồi từ đó tiến lên trở lại tới cực tinh thần; cũng vậy các cuộc tuần hoàn của loài người tạo thành một chuỗi tương tự các bầu hành tinh mà ta có thể lấy dãy hành tinh để làm biểu tượng. Thật vậy, trong cuộc tiến hóa của con người trên mỗi cõi cũng như mọi cõi đều có một vòng cung đi xuống và một vòng cung đi lên; có thể nói tinh thần tiến hóa đi xuống thành ra vật chất, còn vật chất tiến hóa đi lên thành ra tinh thần. Như vậy điểm vật chất cao nhất hay thấp nhất trong chu kỳ này trở thành cái đỉnh bị lộn ngược của trí phàm, vốn là biểu hiện ngụy trang của trí thiêng liêng. Mỗi cuộc tuần hoàn diễn ra theo vòng cung đi xuống (vì mỗi giống dân của mỗi cuộc tuần hoàn khi chúng ta đi xuống tới qui mô nhỏ nhất của vũ trụ) ắt phải có trí phàm nhiều hơn mức giống dân có trước nó và mỗi giống dân ở vòng cung đi lên phải cấp cho một dạng trí tuệ tinh vi hơn pha trộn với trực giác tâm linh nhiều hơn. Vì vậy trong cuộc tuần hoàn thứ nhất, chúng ta thấy con người là một tạo vật tương đối tinh anh so với trạng thái hiện nay y đạt được trên trái đất, không phải là xét về trí năng mà xét theo khía cạnh siêu tâm linh. Cũng giống như hình dáng loài động vật và thực vật xung quanh mình, con người ở trong một thể xác to lớn nhưng có kết cấu lỏng lẻo. Trong cuộc tuần hoàn thứ nhì, y vẫn còn khổng lồ và tinh anh, nhưng đã có một thể xác bền vững hơn và cô đọng hơn là một con người có tính vật thể hơn nhưng vẫn còn ít có trí thông minh hơn so với tính linh. Trong cuộc tuần hoàn thứ ba, y đã phát triển được một thể xác rất cụ thể và cô đọng trước hết là cái hình dạng giống như một con khỉ lớn hơn một con người, nhưng có trí thông minh càng ngày càng khá hơn. Trong nửa sau của cuộc tuần hoàn thứ ba, bộ vó khổng lồ của y giàm đi, cơ thể y có cấu trúc được cải thiện và y bắt đầu là một con người có lý trí. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư, trí năng (giờ đây đã phát triển trọn vẹn) đạt được những bước tiến vĩ đại. Những giống dân đầu tiên của cuộc tuần hoàn này bắt đầu có được ngôn ngữ của loài người theo như ta hiểu hiện nay. Thế giới đầy dẫy những thành quả của hoạt động trí tuệ, còn khía cạnh tâm linh bị suy tàn. Khi đạt đến giữa cuộc tuần hoàn thứ tư thì ta đã vượt qua cực điểm của trọn cả chu kỳ bảy thế giới. Từ điểm này trở đi, Chơn ngã bắt đầu đấu tranh với thể xác và tâm trí để biểu lộ những quyền năng siêu việt của mình. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, sự đấu tranh này tiếp diễn nhưng những năng lực siêu việt đã được phát triển khá nhiều mặc dù sự giằng co giữa một bên là năng lực này với một bên là trí năng và khuynh hướng phàm tục lại còn mãnh liệt hơn bao giờ hết, vì trí năng thuộc cuộc tuần hoàn thứ năm cũng như tính linh của cuộc tuần hoàn này đã tiến bộ nhiều hơn so với cuộc tuần hoàn thứ tư. Trong cuộc tuần hoàn thứ sáu, nhân loại đạt tới một mức độ hoàn thiện cả về mặt thể xác và linh hồn, về trí năng và tính linh mà những người phàm tục hiện nay không dễ gì tưởng tượng ra được. Những tổ hợp cao siêu nhất về minh triết, lòng từ thiện và sự giác ngộ siêu việt mà thế gian đã từng chứng kiến hoặc nghĩ tới ắt tiêu biểu cho loại hình con người bình thường vào lúc đó. Những năng khiếu mà hiện nay vốn là tinh hoa hiếm hoi của cả một thế hệ khiến cho những siêu nhân có nó, thám hiểm được những bí mật của Thiên nhiên và biết được nhiều điều mà giờ đây người ta chỉ đưa ra những mảnh vụn (qua những tài liệu hoặc bằng cách khác) cho thế giới; vào lúc đó những năng lực này hầu như ai cũng có được. Còn về phần cuộc tuần hoàn thứ bảy sẽ ra sao thì các vị đạo sư huyền bí cởi mở nhất vẫn kín tiếng một cách trang trọng. Nhân loại vào cuộc tuần hoàn thứ bảy sẽ hầu như giống Thượng Đế đến nỗi mà loài người trong cuộc tuần hoàn thứ tư không thể tiên liệu được những thuộc tính của nó.
Trong khi làn sóng sinh hoạt nhân loại ở trên bất kỳ hành tinh nào thì mỗi chơn thần cá biệt tất yếu là phải lâm phàm nhiều lần. Ta đã giải thích được điều này một phần nào. Nếu chơn thần chỉ trải qua một kiếp trong mỗi giống dân nhánh mà ít nhất nó phải trải qua một lần, thì toàn bộ kiếp sống trong trọn cả một cuộc tuần hoàn trên một hành tinh ắt là 343 kiếp tức là 73. Nhưng sự thật là mỗi chơn thần lâm phàm hai lần trong một giống dân nhánh và nó tất yếu còn lâm phàm trong một số trường hợp phụ trợ thêm nữa. Vì những lý do mà người ngoài không thể gì đoán được, những vị có được kiến thức huyền bí học đặc biệt ngần ngại khi đưa ra những sự kiện với những con số liên quan tới vũ trụ khởi nguyên luận, mặc dù người chưa điểm đạo khó lòng mà hiểu được tại sao phải lại giữ kín những con số này. Chẳng hạn như hiện nay, chúng tôi không thể nêu rõ một cuộc tuần hoàn thật sự kéo dài bao nhiêu năm. Nhưng có một sự nhượng bộ mà chỉ những người nào đã nghiên cứu lâu dài huyền bí học theo phương pháp cũ mới đánh giá đúng mức được, đó là những con số liên quan trực tiếp với chúng ta; dù sao đi nữa sự nhượng bộ này cũng có giá trị vì nó giúp soi sáng cho một sự kiện thú vị có liên quan tới cuộc tiến hóa mà chúng ta hiện nay đã đạt tới trước thềm của nó. Sự kiện này là như sau: trong khi trái đất chẳng hạn như hiện nay là nơi cư trú của loài người thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư, do làn sóng sinh hoạt nhân loại có thể nói là đã đi được bốn vòng xung quanh cái chu kỳ thế giới, thì vẫn sống trà trộn với chúng ta một số ít người (ít so sánh với tổng số) vốn thuộc về cuộc tuần hoàn thứ năm. Thế mà theo cái nghĩa của thuật ngữ ta dùng hiện nay, thì ta không được giả sử rằng bất kỳ cá nhân nào đã dùng một tiến trình mầu nhiệm để thực sự đi suốt một vòng qua trọn cả dãy thế giới nhiều hơn đồng loại của mình. Căn cứ vào những lời giải thích vừa nêu trên về cách thức tiến bộ của đợt sóng triều nhân loại, thì ta ắt thấy rằng không thể có được điều này. Nhân loại còn chưa đi tới cư trú lần thứ tư trên hành tinh kế tiếp hành tinh của chúng ta. Nhưng chơn thần cá biệt đó có thể vượt lên trước những người đồng hành với mình xét về mặt phát triển cá nhân, và như vậy chơn thần đó giống hệt như loài người nói chung sẽ đạt được khi cuộc tuần hoàn thứ năm đã được triển khai trọn vẹn. Có thể thực hiện điều này bằng hai cách. Một người bẩm sinh là một đơn vị bình thường của cuộc tuần hoàn thứ tư có thể thông qua những tiến trình rèn luyện về huyền bí học để biến mình thành ra một người có đầy đủ thuộc tính của con người thuộc cuộc tuần hoàn thứ năm và như vậy, y trở thành cái mà chúng ta có thể gọi là một người thuộc cuộc tuần hoàn thứ năm nhân tạo. Nhưng không cần phải nỗ lực trong kiếp hiện nay thì một người vẫn có thể sinh ra là một người của cuộc tuần hoàn thứ năm sống trà trộn trong đám nhân loại thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư nhờ vào tổng số những kiếp đã qua.
Nếu đặt x là tổng số kiếp khi tiến qua diễn trình của Thiên nhiên chơn thần phải thực hiện một cuộc tuần hoàn trên một hành tinh, còn y là biên tế của những kiếp lâm phàm phụ trợ mà y bắt buộc mình phải trải qua trong thời kỳ đó vì quá đắm say cuộc sống trên trần thế, thì thật sự là 24½ (x + y) có thể vượt quá 28x; điều này có nghĩa là chỉ nội ba cuộc tuần hoàn rưởi, một chơn thần đã đi trọn nhiều kiếp lâm phàm giống như một chơn thần bình thường hoàn thành được trọn cả bốn cuộc tuần hoàn. Kết quả này không thể đạt được trong ít hơn ba cuộc tuần hoàn rưởi vì hiện nay chúng ta mới vừa trải qua điểm ở giữa của sự tiến hóa trên hành tinh nửa vời này, cho nên những người thuộc cuộc tuần hoàn thứ năm mới bắt đầu ghé vô được.
Xét theo bản chất sự việc, thì một chơn thần không thể vượt trước những người đồng hành của mình nhiều hơn một cuộc tuần hoàn. Tuy nhiên nếu xét tới việc Đức Phật là một người thuộc cuộc tuần hoàn thứ sáu, thì sự kiện này ắt có dính dáng tới một điều bí nhiệm vĩ đại vượt ngoài phạm vi của phép tính toán hiện nay. Trong lúc này ta chỉ cần nói rằng sự tiến hóa của một Đức Phật có liên quan tới một điều gì đó còn nhiều hơn việc chỉ lâm phàm trong phạm vi một dãy hành tinh mà thôi.
Vì trong phép tính toán nêu trên, ta thấy rằng có nhiều kiếp sống mà chơn thần cá biệt đã lần lượt trải qua, cho nên để tránh hiểu lầm, ở đây ta phải nêu rõ rằng những kiếp lâm phàm này chiếm một thời kỳ rất lâu và có những khoảng ngăn cách chúng với nhau. Ở trên ta có nêu rõ rằng hiện nay không thể đưa ra con số thực sự về thời kỳ kéo dài của một cuộc tuần hoàn. Thật ra thì không thể có một con số nào được trích dẫn mà nêu ra thời kỳ kéo dài của mọi cuộc tuần hoàn, vì con số này biến thiên rất nhiều trong một phạm vi rất rộng. Nhưng ở đây có một sự kiện đơn giản mà bậc có thẩm quyển cao siêu nhất về huyền bí học có liên hệ với chúng ta đã dứt khoát nêu rõ. Giống dân hiện nay tức là giống dân thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ tư đã bắt đầu tiến hóa cách đây vào khoảng một triệu năm. Cho đến nay nó còn chưa tiến hóa xong, nhưng cứ giả sử rằng trọn cả kiếp sống của một giống dân kéo dài một triệu năm [[6]] thì nó phải chia ra làm bao nhiêu cho mỗi kiếp sống của chơn thần cá biệt? Trong một giống dân phải có vào khoảng hơn 100 kiếp sống của mỗi chơn thần cá biệt và hầu như không quá 120 kiếp, nhưng cứ giả sử rằng các chơn thần thuộc giống dân hiện nay đã trải qua 120 kiếp. Nếu cho rằng mỗi kiếp sống kéo dài trung bình là một thế kỷ, thì trong trường hợp đó chúng ta mới chỉ có 12.000 năm (trong số một triệu năm sống trên cõi trần so với 988.000 năm sống nơi nội giới, như vậy là trung bình mỗi kiếp sống kéo dài vào khoảng hơn 8.000 năm. Chắc chắn là những thời kỳ trung gian ở giữa kéo dài một cách co giãn, nhưng chúng khó lòng mà rút gọn được hơn 1.500năm (dĩ nhiên ta không xét đến trường hợp các Chơn sư, vì các ngài đã hoàn toàn ngoại lệ so với qui luật bình thường) và 1.500 năm ắt là một thời kỳ rất ngắn giữa hai kiếp tái sinh.
Tuy nhiên ta phải kể thêm một hai điều cân nhắc nữa vào những phép tính toán này. Trường hợp những đứa trẻ chết yểu hoàn toàn không giống như trường hợp những người đã trưởng thành vì những lý do hiển nhiên mà giờ đây ta sẽ gợi ý để giải thích nó. Một đứa trẻ chết trước khi nó đã sống đủ lâu để bắt đầu chịu trách nhiệm về những hành động của mình ắt không tạo nên Nghiệp mới. Chơn thần rời bỏ thể xác của đứa nhỏ đó trong tình trạng giống hệt như khi nó nhập vào thể xác đó sau cái chết lần cuối cùng trên cõi Devachan. Nó chưa có cơ hội để chơi một nhạc cụ mới, cây đàn này đã bị đứt dây ngay cả trước khi người ta lên dây. Vì vậy chơn thần có thể tái sinh ngay tức khắc theo đường lối cũ đã thu hút nó. Nhưng chơn thần tái sinh như thế xét về mặt tâm linh thì tuyệt nhiên không được đồng nhất hóa với đứa trẻ chết yểu. Cũng giống như vậy trong trường hợp một chơn thần nhập vào xác của một kẻ ngu đần bẩm sinh. Cái đàn này không thể lên dây được cho nên nó không thể được đánh lên chẳng khác gì thể xác của một đứa trẻ trong một vài năm sơ sinh. Nhưng cả hai trường hợp này rõ ràng là những ngoại lệ vốn không thể làm thay đổi được cái qui tắc tổng quat đã được nêu trên dành cho mọi người lớn đã trưởng thành và sống cuộc đời trên trần thế để hành thiện hoặc làm điều ác.
CHÚ GIẢI
Khi có thêm thông tin sau này và khi ta khảo cứu (có thể nói là đối chiếu nhiều nhánh khác nhau của giáo lý và sự tổ hợp lại với những phát biểu khác của chương vừa nêu) thì ta thấy thật là khó mà áp dụng được những con số này một cách hiển nhiên trong trường hợp Giáo lý Bí truyền. Những con số có thể hoàn toàn đáng tin cậy khi tiêu biểu cho những điều trung bình tổng quát thế nhưng nó lại gây ra nhầm lẫn khi được áp dụng trong những trường hợp đặc biệt. Thời kỳ trên cõi Devachan đối với những người khác nhau biến thiên trong một phạm vi rất rộng lớn đến nỗi mà bất kỳ qui tắc nào được nêu ra về vấn đề này cũng phải có những ngoại lệ gây sửng sốt. Trước hết là con số trung bình nêu trên chắc chắn được tính toán đối với những người lớn đã trưởng thành. Đối với những đứa con nít tuyệt nhiên không có thời kỳ Devachan khi so với người lớn đã hoàn thành một thời kỳ trung bình, ta thấy có một loại trung gian là những người chết khi còn trẻ nhưng đã tích lũy Nghiệp quả rồi, họ do đó cũng phải trải qua những giai đoạn thông thường trong quá trình phát triển tâm linh; nhưng vì họ sống một kiếp sống ngắn ngủi cho nên họ chỉ tạo ra những nguyên nhân không cần phải dùng nhiều thời gian mới thanh toán hết. Những người như thế cũng trở lại tái sinh sau khi tạm trú nơi cõi hậu quả trong một thời gian tương đối ngắn ngủi. Lại nữa, có chuyện là có sự lâm phàm nhân tạo do Chơn sư trực tiếp can thiệp khi người đệ tử chưa đạt đến mức bản thân kiểm soát được vật chất, trong trường hợp này ngay sau khi y chết trong kiếp trước trên cõi trần, người đệ tử sẽ được tái sinh trở lại hầu như ngay tức khắc mà không phải chịu số kiếp trôi nổi theo dòng tiến hóa bình thường của các nguyên nhân. Dĩ nhiên là những trường hợp này có thể nói rằng con người hữu quan đó đã nhờ vả Chơn sư trong những trường hợp mà các nguyên nhân tự nhiên thuộc một loại nào đó cần tới sự can thiệp của Chơn sư, ngài đâu có quyền hành động một cách bất thường như thế, hậu quả của những nỗ lực trong kiếp trước là bao nhiêu thì Nghiệp báo cũng phải bấy nhiêu. Nhưng cũng có những trường hợp hoàn toàn không giống như cách tác động theo qui luật thông thường.
Hiển nhiên là đối với những sự kiện phức tạp thuộc loại hoàn toàn không quen thuộc thì những kẻ nào có đầu óc chưa được rèn luyện lần đầu tiên tiếp xúc với chúng không thể thấy rõ được ngay từ đầu tất cả những điều kiện thích hợp, những sự bù trừ và những sự phát triển bất thường. Trước hết chúng ta phải xét những trường hợp tổng quát, nhiên hậu mới bàn đến những ngoại lệ, nhất là trong trường hợp ta nghiên cứu về huyền bí học liên quan tới những phương pháp huấn luyện theo truyền thống thì người ta thường nhắm vào việc ghi khắc mọi ý tưởng mới mẻ vào trong trí nhớ khiến cho đâm ra bối rối rồi cuối cùng mới giải tỏa điều bối rối này. Liên quan tới một vấn đề khác mà ta đã bàn đến ở những trang trước, giờ đây dường như tôi thấy rằng mình đã bỏ qua không kể đến một điều ngoại lệ quan trọng trong Thiên nhiên. Sự mô tả mà tôi đưa ra về quá trình tiến hóa của làn sóng triều nhân loại tự thân nó vốn mạch lạc, nhưng vì ở Ấn Độ từ khi nguyên bản của quyển sách này được phát hành thì người ta có phê phán khi so sánh phiên bản về câu chuyện này của tôi với một vài đoạn trong những tác phẩm khác mà họ biết rằng bắt nguồn từ một Chơn sư. Người ta có nêu ra những sự mâu thuẫn giữa hai phát biểu đó; phiên bản kia giả sử rằng một chơn thần có thể thực sự đi suốt qua bảy hành tinh trọn cả một vòng tiến hóa vượt mức những người đồng loại mà cuối cùng y sống trộn lẫn vào đó trên trái đất này. Cách trình bày của tôi về sự qui nguyên dường như khiến cho hoàn cảnh này không thể có được. Manh mối của điều bí nhiệm này dường như ở bên ngoài những phạm vi sự kiện mà các Chơn sư sẵn lòng thảo luận thoải mái, và độc giả phải hiểu rõ rằng lời giải thích mà tôi sắp đưa ra ở đây chỉ là kết quả sự suy đoán riêng và đối chiếu của tôi về những bộ phận khác nhau trong giáo lý chứ không phải là thông tin chân thực do tiếp thu của bậc đạo sư nói chung đã truyền thụ cho tôi.
Sự thật dường như là cho đến nay những sự qui nguyên hoàn chỉnh được dành cho mọi hiện tượng nêu trên có liên quan tới mỗi hành tinh chịu ảnh hưởng của sự qui nguyên này nói chung. Nhưng có những hiện tượng ngoại lệ mà chúng ta bao giờ cũng phải cảnh giác vì nó có ảnh hưởng tới vấn đề này. Đại đa số nhân loại bị thôi thúc đi từ hành tinh này sang hành tinh kế tiếp theo chu kỳ lớn khi đã đến lúc phải chuyển tiếp như vậy, nhưng hành tinh mà loài người bỏ lại không phải hoàn toàn thiếu vắng loài người, ở mọi vùng trên bề mặt hành tinh, do những sự thay đổi về vật thể và khí hậu cho nên con người không thích hợp để sống trên đó nữa. Ngay cả trong thời kỳ qui nguyên, một số nhỏ loài người vẫn bám lấy mỗi hành tinh và các chơn thần liên quan tới thiểu số này tuân theo những luật tiến hóa khác vượt ngoài tầm chi phối vòng xoáy chính của nhân loại trên hành tinh bị cuốn theo đợt sóng triều vĩ đại, thiểu số đó chuyển từ thế giới này sang thế giới khác theo điều mà ta có thể gọi là sự tiến hóa của cuộc nội tuần hoàn, vượt xa loài người nói chung. Việc có những hoàn cảnh đôi khi lôi kéo một linh hồn từ giữa dòng xoáy lớn của loài người thoát ra khỏi sức hút của hành tinh chịu tác dụng của đợt sóng triều đó để nhập vào sức hút của Cuộc Nội Tuần Hoàn, đó là một vấn đề mà chỉ mãi đến nay chúng ta mới có thể phỏng đoán được một cách rất bấp bênh.
Xét về giải pháp mà tôi đánh liều đưa ra để áp dụng cho vấn đề các Cuộc Nội Tuần Hoàn, ta nên lưu ý cách thức mà tôi giả sử rằng Thiên nhiên sẽ tồn tại hài hòa với sự kiện mà các giáo lý đã phổ biến rộng rãi, đó là trận Đại hồng Thủy. Cái phần của một hành tinh vẫn còn có thể cư ngụ được trong khi có chu kỳ qui nguyên ắt tương đương với cái Bè của ông Noah mà trong thánh kinh có tường thuật lại với một ý nghĩa phần lớn là biểu tượng. Dĩ nhiên là câu chuyện về trận Đại Hồng Thủy cũng chỉ có chút ít ý nghĩa biểu tượng thôi, nhưng dường như các môn đồ kinh Kabalah cũng có thể liên kết nó với ý tưởng mà giờ đây ta đã nêu ra được ý nghĩa lớn lao hơn. Đến khi nào mà hành tinh bị qui nguyên lại sẵn sàng một lần nữa đón tiếp đông đảo loài người, thì những cư dân ở trên cái bè sẽ sẵn sàng bắt đầu quá trình sinh sôi nẩy nở trở lại trên trái đất.