17/6/14

Phật giáo bí truyền – Thông Thiên Học (Kỳ 4): Các chu kì thế giới


Chỉ cần liếc mắt xem qua giáo lý huyền bí học liên quan tới sự phát triển con người trên trái đất thì ta cũng thấy ngay được một sự minh họa nổi bật cho tính đồng dạng trong Thiên nhiên. Phác thảo của bảng thiết kế thì cũng giống như phác thảo của một bảng thiết kế bao quát hơn áp dụng cho trọn cả dãy thế giới. Những chi tiết bên trong của thế giới này xét về những đơn vị kiến tạo nên nó cũng giống như những chi tiết bên trong của một cơ thể lớn lao hơn mà chính thế giới này là một đơn vị. Điều này có nghĩa là sự phát triển của loài người trên trái đất này được hoàn thành nhờ vào những đợt sóng liên tiếp phát triển tương ứng với những thế giới liên tiếp trong dãy hành tinh lớn hơn. Ta nên nhớ (vì điều này đã được trình bày rồi) đợt sóng triều lớn gồm sự sống của loài người quét vòng vòng qua trọn cả dãy thế giới thành những đợt sóng liên tiếp. Ta có thể tạm gọi những sự tăng trưởng nguyên sơ này của loài người là những cuộc tuần hoàn. Chúng ta không được quên rằng các đơn vị cá thể cấu tạo thành mỗi cuộc tuần hoàn đều giống hệt như nhau xét về những nguyên khí cao, nghĩa là các cá thể trên trái đất trong cuộc tuần hoàn thứ nhất sẽ lại trở về sau khi đã hoàn tất cuộc hành trình vòng vòng suốt cả dãy thế giới để lại tạo thành cuộc tuần hoàn thứ hai v. v. . . Nhưng ở đây điều mà ta cần phải đặc biệt chú ý đó là việc các đơn vị cá thể sau khi đã đến một hành tinh cho sẵn nào đó của dãy hành tinh trong diễn trình của bất kỳ cuộc tuần hoàn cho sẵn nào, thì không chỉ đến tiếp xúc với hành tinh đó rồi lại chuyển ngay sang hành tinh kế tiếp. Trước khi chuyển đi y phải trải qua một loạt các giống dân trên hành tinh đó. Và sự kiện này gợi cho ta thấy nét phác thảo của kết cấu mà giờ đây đã xuất lộ trong tâm trí của bạn đọc; nó trình bày tính tương tự của bảng thiết kế dành cho một thế giới khi so sánh với bảng thiết kế của trong cả một dãy, đây là điều mà ta đã được nhắc nhở chú ý tới. Cũng như trọn cả hệ thống Thiên nhiên bao gồm chúng ta được triển khai qua một loạt các cuộc tuần hoàn xuyên suốt mọi thế giới, cũng vậy sự phát triển của loài người trong mỗi thế giới được triển khai qua một loạt các giống dân phát triển bên trong giới hạn của mỗi thế giới.
Bây giờ đã đến lúc ta minh giải rõ ràng hơn sự vận hành của qui luật này bằng cách xét những con số có thực vốn liên quan tới sự tiến hóa trong giáo lý của ta. Dường như là quá sớm khi bắt đầu đưa ra những con số này, nhưng ngay khi ta lĩnh hội thỏa đáng được ý niệm về một hệ thống thế giới trong một dãy thế giới và sự tiến hóa của sự sống trên mỗi thế giới trải qua một loạt các kiếp tái sinh, thì ta đã làm cho dễ dàng hơn nhiều việc sau này xem xét thêm nữa cách vận hành của qui luật bằng cách đề cập chính xác tới con số có thực của các thế giới, con số có thực của các cuộc tuần hoàn, của các giống dân mà ta cần tới để hoàn thành trọn cả mục đích của hệ thống. Đó là vì ta nên nhớ rằng trọn cả kỳ gian của một hệ thống thì chắc chắn là cũng hạn hẹp như thời gian sống của một con người. Có lẽ nó không hạn hẹp về một số năm xác định được đưa ra một cách dứt khoát ngay từ đầu, nhưng điều gì có lúc khởi đầu thì tất yếu phải hướng về một lúc kết cục. Cuộc sống của một con người không kể bị tai nạn là một chu kỳ có lúc chấm dứt thì cuộc sống của một hệ thống thế giới cũng phải có một sự kết cục tối hậu. Những thời kỳ dài dằng dặc liên quan tới kiếp sống của một hệ thống thế giới như thường lệ ắt làm choáng váng óc tưởng tượng, nhưng những thời kỳ này có thể đo lường được, chúng có thể được chia thành những thời kỳ nhỏ thuộc đủ loại khác nhau với một con số xác định.
Chẳng biết Shakespeare có bản năng tiên tri ra sao mà ông lại chọn lựa con số bảy làm con số thích hợp cho sự phân loại hoang tưởng của mình về tuổi tác của con người, đây là một vấn đề mà ta cũng chẳng cần quan tâm tới nhiều nhưng chắc chắn là ông chẳng thể nào chọn lựa một con số thích đáng hơn. Sự tiến hóa của các giống dân có thể được truy nguyên theo những thời kỳ bao gồm con số bảy; số bảy cũng là con số thực sự của các ngoại giới tạo thành hệ thống thế giới của ta bao gồm cả trái đất nữa. Nên nhớ rằng huyền bí gia biết sự kiện này cũng giống như nhà vật lý học biết sự kiện quang phổ bao gồm bảy màu và âm giai bao gồm bảy tông. Có bảy giới trong Thiên nhiên chứ không phải là ba theo như khoa học hiện đại đã phân loại một cách bất toàn. Con người thuộc về một giới tách biệt với giới động vật, giới nhân loại bao gồm cả những đấng có một tổ chức cao siêu hơn mức con người mà đến nay chúng ta hằng quen thuộc; còn bên dưới giới khoáng vật có ba giới nữa mà khoa học Tây phương chẳng biết gì, nhưng ngành học này của đề tài đó hiện nay có thể được gác lại. Ta chỉ đề cập tới nó ở đây để cho thấy sự vận hành đều đặn của qui luật số bảy trong Thiên nhiên.
Trở về với giới mà chúng ta quan tâm nhất, thì Con người tiến hóa qua một loạt các cuộc tuần hoàn (tức là sự tiến bộ vòng vòng qua một dãy thế giới) và trước khi số phận của hệ thống thế giới chúng ta đã được triển khai thì nó phải hoàn thành bảy cuộc tuần hoàn. Cuộc tuần hoàn hiện nay đang tiếp diễn là cuộc tuần hoàn thứ tư. Người ta xét thấy rằng có thể có những lợi ích rất lớn liên quan tới việc hiểu biết chính xác về đề tài này, vì có thể nói rằng mỗi cuộc tuần hoàn được đặc biệt ấn định sao cho một trong bảy nguyên khí nơi con người sẽ chiếm ưu thế theo thứ tự đều đặn của việc phân bậc theo chiều đi lên.
Khi đạt tới một hành tinh lần đầu tiên trong diễn trình của một cuộc tuần hoàn, thì một đơn vị cá thể phải trải qua bảy giống dân trên hành tinh đó trước khi y chuyển sang hành tinh kế tiếp, mỗi giống dân này đều tồn tại trên trái đất trong một thời gian lâu dài. Những sự suy đoán theo kiểu cũ của chúng ta về thời gian và sự vĩnh hằng mà hệ thống tôn giáo mơ hồ của phương Tây gợi ra, đã tạo thành một thói quen kỳ lạ cho tâm trí liên quan tới những vấn đề bàn về kỳ gian thực sự của những thời kỳ đó. Chúng ta có thể nói liến thoắng về thời kỳ vĩnh hằng và đi tới tận đầu mút bên kia của giai bậc ấy, chúng ta đâu có bị xúc động mạnh đối với chỉ vài ngàn năm, nhưng ngay khi chúng ta đếm số năm tháng một cách chính xác theo từng nhóm ở trong vùng trung gian của tư tưởng, thì các nhà thần học phi lý của Tây phương lại thường coi việc đếm số năm tháng đó là chuyện vớ vẩn. Thế mà hiện nay chúng ta sống trên trái đất này (đại đa số nhân loại nghĩa là cũng có những trường hợp ngoại lệ mà ta sẽ xét sau) và đang trải qua giống dân thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ tư. Và sự tiến hóa của giống dân thứ năm đó chỉ mới bắt đầu cách đây vào khoảng một triệu năm. Khi xét thấy sự kiện là thiên vũ trụ khởi nguyên luận này không chủ trương bàn về thời kỳ vĩnh hằng, thì liệu độc giả có dám táo bạo bàn tới những ước tính liên quan tới hàng triệu năm và ngay cả coi con số triệu năm đó là những con số đáng kể hay chăng ?
Mỗi giống dân trong bảy giống dân tạo thành một cuộc tuần hoàn (nghĩa là chúng tiến hóa trên trái đất nối tiếp nhau trong khi làn sóng vĩ đại của loài người chạy vòng vòng qua dãy hành tinh) lại được chia nhỏ ra nữa. Nếu không phải như vậy, thì những kiếp tồn tại hoạt động của mỗi đơn vị con người thật ra ắt chỉ năm thì mười họa. Trong giới hạn của mỗi giống dân, ta có bảy giống dân phụ và trong mỗi giới hạn của giống dân phụ, ta lại có bảy giống dân nhánh. Nói đại khái thì mỗi đơn vị cá nhân con người phải trải qua tất cả các giống dân này trong khi y ở trên trái đất, mỗi lần mà y đến đó theo một cuộc tuần hoàn tiến bộ qua một hệ thống hành tinh. Nếu ta suy gẫm kỹ, thì điều này cũng chẳng làm cho tâm trí phải thất kinh giống như một giả thuyết đưa ra ít cuộc lâm phàm hơn. Đó là vì cho dù mỗi đơn vị cá thể phải trải qua nhiều kiếp khi ở trên trái đất trong một cuộc tuần hoàn, dù cho số kiếp sống là nhiều hay ít thì y cũng không thể tiến thêm cho tới lúc mà làn sóng của cuộc tuần hoàn đã trào dâng lên phía trước. Ngay cả khi tính toán theo dự báo, thì ta ắt cũng thấy rằng thời gian mà mỗi đơn vị cá thể sống trên cõi trần chỉ là một phần nhỏ của trọn cả thời gian mà y phải trải qua giữa lúc y tới trái đất và rời trái đất để đến hành tinh kế tiếp. Vì vậy rõ rệt là nếu tính theo thời gian kéo dài thì phần lớn thời giờ ắt phải trải qua trong những tình trạng tồn tại nơi nội giới vốn thuộc về “Thế giới Hậu quả”, tức là trái đất tâm linh gắn liền với trái đất vật thể mà kiếp sống ngoại giới của ta đang trải qua đó.
Ta phải xét bản chất của sự tồn tại đó trên trái đất tâm linh song song với bản chất của sự tồn tại diễn ra trên trái đất vật thể, và ta đã bàn tới nó trong phép liệt kê nêu trên về các kiếp lâm phàm trong giống dân. Chúng ta không bao giờ được quên rằng giữa mỗi kiếp sống trên cõi trần, thì đơn vị cá thể đều phải trải qua một thời kỳ tồn tại trong thế giới tâm linh tương ứng. Và chính vì tình trạng tồn tại đó được định nghĩa theo cách sử dụng những cơ hội trong kiếp sống trên cõi trần vừa mới trải qua cho nên tác phẩm huyền bí học thường gọi trái đất tâm linh là thế giới hậu quả. Bản thân trái đất vật thể là thế giới nguyên nhân tương ứng với nó.
Dĩ nhiên là đơn vị cá thể tức chơn thần chuyển vào thế giới hậu quả sau một kiếp lâm phàm nơi thế giới nguyên nhân; nhưng phàm ngã vừa mới bị tan rã cũng chuyển vào đó và ở một mức độ nào đó còn tùy thuộc vào phẩm chất của phàm nhơn ấy; có thể nói là tùy thuộc vào cách mà con người được xét đến đã sử dụng những cơ hội của mình trong kiếp sống. Thời kỳ trải qua nơi thế giới hậu quả – bất cứ trường hợp nào thì cũng dài hơn nhiều so với kiếp sống dọn đường cho sự tồn tại ở nơi đó – tương ứng với “bên kia cửa tử” tức là cõi thiên đường của thần học thông thường. Tầm nhìn hạn hẹp của những tôn giáo bình thường chỉ bàn tới một kiếp sống tâm linh duy nhất và những hậu quả của nó trong kiếp sống vị lai. Thần học quan niệm rằng thực thể hữu quan đã bắt đầu có cuộc sống trên cõi trần, còn cuộc sống tâm linh sau này sẽ không bao giờ ngừng nghỉ. Chính hai kiếp sống này mà chúng ta giờ đây đang triển khai đã được khoa học huyền bí căn bản chứng tỏ rằng nó chỉ cấu thành một bộ phận trong kinh nghiệm của thực thể liên quan tới một giống dân nhánh, vốn là một trong bảy giống dân thuộc về một giống dân phụ, mỗi giống dân phụ lại là một trong bảy giống dân thuộc về một giống dân chính, mỗi giống dân chính lại là một trong bảy giống dân thuộc về một trong bảy đợt sóng tuần hoàn khi loài người ở trên trái đất, đến lượt mỗi đợt sóng này lại thực hiện những chức năng của nó cho đến khi đã kết thúc những chức năng đó trong Thiên nhiên – cái phân tử vi mô này của toàn thể cấu trúc chính là điều mà thần học thông thường coi còn hơn cả tổng thể, vì người ta giả sử rằng nó xảy ra trong thời gian vĩnh cửu.
Ở đây người ta phải cảnh báo độc giả coi chừng y sẽ đi đến một kết luận về những lời giải thích nêu trên, kết luận này hoàn toàn chính xác trong phạm vi đó, nhưng chưa bao trùm được mọi hoàn cảnh. Y không được xác định con số chính xác của các kiếp sống mà một thực thể cá biệt phải trải qua trên trái đất trong diễn trình của một cuộc tuần hoàn bằng cách tính lũy thừa ba của con số bảy. Nếu người ta chỉ trải qua một kiếp sống trong mỗi giống dân nhánh thôi, thì tổng số kiếp sống rõ ràng là 343, nhưng mỗi kiếp sống ít ra là biểu lộ nơi ngoại cảnh hai lần trong cùng một giống dân nhánh, nói cách khác mỗi chơn thần lâm phàm hai lần trong mỗi giống dân nhánh. Lại nữa có một luật chu kỳ lạ thường tác động để làm tăng thêm tổng số kiếp sống lâm phàm vượt mức 686. Mỗi giống dân phụ có thêm sinh lực nào đó đạt tột đỉnh, khiến cho nó dứt bỏ thêm một giống dân hậu duệ của mình ở một mức độ nào trong khi tiến hóa, rồi lại phát triển một giống dân hậu duệ khác vào lúc kết thúc giống dân phụ khi có thể nói rằng cái trớn của nó đang tàn lụi. Trọn cả đợt sóng triều cuộc sống loài người trải qua các giống dân này và kết quả là tổng số kiếp lâm phàm bình thường dành cho mỗi chơn thần cũng phải ngót nghét là 800. Trong những giới hạn tương đối hẹp thì đó là một con số linh động, nhưng ta sẽ xét sau những tác dụng của sự kiện này.
Định luật phương pháp đưa mỗi thực thể con người cá biệt trải qua diễn trình tiến hóa vĩ đại là được phác họa như vậy đâu phải là không tương thích với cái khả năng xảy ra những số phận khác thường hoặc sự tiêu diệt tối hậu vốn đe dọa các thực thể phàm nhơn của những người đã vun bồi các ái lực rất đê tiện. Sự phân phối bảy nguyên khí vào lúc chết đã chứng tỏ rõ rệt điều đó, nhưng ta có thể hiểu rõ hơn tình hình này nếu xét nó theo những lời giải thích thêm nữa về cuộc tiến hóa. Thực thể thường tồn vốn sống trải qua hàng loạt các kiếp sống, chẳng những xuyên qua các giống dân thuộc về làn sóng tuần hoàn hiện nay trên trái đất, mà còn xuyên qua các giống dân của những làn sóng tuần hoàn khác và những thế giới khác. Nói tổng quát thì sớm muộn gì mặc dù có thể ở một tương lai rất xa xăm nào đó khi ta đo lường bằng năm tháng thì ta có thể nhớ lại được tất cả các kiếp sống này, chúng dường như là những ngày trải qua trong quá khứ đối với chúng ta. Nhưng cái tàn dư tinh vi mà chúng ta đã vứt bỏ mỗi khi chuyển sang thế giới hậu quả vẫn còn có một kiếp sống tương đối độc lập của riêng mình, hoàn toàn tách rời với kiếp sống của thực thể tâm linh mà nó vừa mới chia tay.
Lịch sử tự nhiên của cái tàn dư tinh vi này là một vấn đề rất thú vị và quan trọng; nhưng muốn tiếp tục theo đúng phương pháp của trọn cả đề tài này, thì trước hết ta cần phải cố gắng nhận ra được số phận của Chơn ngã vốn cao siêu và thường tồn hơn, và trước khi tiến hành việc khảo sát đó, thì ta vẫn còn nhiều điều phải nói nữa về sự phát triển của các giống dân nơi ngoại giới.
Khoa học bí truyền, mặc dù bản thân quan tâm chủ yếu tới những vấn đề thường được coi là thuộc về tôn giáo, nhưng nó không thể là một hệ thống bao quát hoàn chỉnh và đáng tin cậy nếu nó không thể hội nhập mọi sự kiện của cuộc sống trên cõi trần để kết hợp hài hòa với giáo lý của mình. Nó ắt không thể tìm kiếm và nhận biết được cách thức các giống người đã tiến hóa trải qua biết bao nhiêu thời gian và hàng loạt các hành tinh, nếu nó không đủ tư cách để nhận biết được (vì việc khảo sát nhỏ hơn ắt được bao gồm trong việc khảo sát lớn hơn) cách thức mà đợt sóng nhân loại dính dáng tới chúng ta hiện nay đã phát triển trên trái đất như thế nào. Tóm lại, những năng khiếu khiến cho các Chơn sư có thể hiểu được các bí nhiệm của các thế giới khác và các trạng thái tồn tại khác, tuyệt nhiên không tương đương với nhiệm vụ đi lùi ngược lại dòng sinh hoạt của quả địa cầu. Suy ra rằng trong cái bản tường trình ngắn ngủi chỉ có một vài ngàn năm mà cái gọi là lịch sử thế giới của chúng ta có thể bàn tới, thì lịch sử trái đất (vốn tạo thành một bộ môn về tri thức huyền bí) phải đi lùi lại tới những diễn biến của giống dân thứ tư có trước giống dân chúng ta, và những diễn biến của giống dân thứ ba có trước giống dân thứ tư. Thật ra nó còn đi ngược xa hơn nữa, nhưng các giống dân thứ nhì và thứ nhất không phát triển được bất cứ điều gì có thể được gọi là văn minh, vì vậy ta chẳng có được bao nhiêu điều để nói về những giống dân này so với những giống dân nối tiếp chúng. Giống dân thứ ba và thứ tư có nền văn minh, mặc dù đối với một số độc giả hiện đại thì dường như là kỳ lạ khi ta xét đến khái niệm văn minh có trên trái đất cách đây nhiều triệu năm.
Họ ắt hỏi: “Thế thì những vết tích của chúng đâu rồi?” Làm thế nào mà nền văn minh Âu châu ngày nay đang phú cho loài người có thể bị diệt vong hoàn toàn đến nỗi không một cư dân tương lai nào trên trái đất có thể biết được là nó đã từng tồn tại? Thế thì làm sao chúng ta quan niệm được cái ý tưởng theo đó bất kỳ một nền văn minh tương tự nào có thể đã bị diệt vong mà không để lại chút ít vết tích gì cho chúng ta?
Câu trả lời vốn ở nơi lệ thường của cuộc sống trên hành tinh, vốn diễn tiến song hành với cuộc sống của các cư dân trên đó. Thời kỳ của các căn chủng lớn được ngăn cách với nhau bằng những cơn chấn động lớn trong Thiên nhiên và có những biến động lớn về địa chất học. Vào lúc giống dân thứ tư đang thịnh vượng thì lục địa Âu châu còn chưa tồn tại. Vào lúc giống dân thứ ba thịnh vượng thì lục địa mà giống dân thứ tư sống trên đó vẫn còn chưa tồn tại và hiện nay không có một lục địa nào vốn đã là những vòng xoáy lớn trong nền văn minh của hai giống dân nêu trên vẫn còn tồn tại. Bảy đại họa về lục địa xảy ra trên trái đất khi luồng sóng sinh họat của loài người trải qua thời kỳ cuộc tuần hoàn. Bằng cách này mỗi giống dân đều bị diệt vong vào lúc đã định, một số vẫn còn sống sót ở những nơi khác trên trái đất vốn không phải là cái nôi chính yếu của giống dân nêu trên; nhưng những người còn sống sót này luôn luôn có khuynh hướng thoái hóa và trở lại tình trạng dã man tương đối nhanh.
Cái nôi chính yếu của giống dân thứ tư vốn ngay trước giống dân chúng ta tức là cái lục địa kho tài liệu công truyền cũng còn được bảo tồn một vài ký ức, đó là châu Atlantis đã thất tung. Nhưng cái hòn đảo lớn mà Plato có nhắc tới sự tiêu diệt của nó thực ra chỉ là di tích cuối cùng của châu Atlantis. Tôi được cho biết rằng “vào thời Hạ tằng Đệ tam kỷ, ngay ở phần đầu tiên của nó thì chu kỳ lớn của những người thuộc giống dân thứ tư tức giống dân Atlante đã đạt tới tột đỉnh và lục địa lớn này là cha đẻ của hầu hết mọi lục địa hiện nay đã tỏ ra có dấu hiệu đầu tiên là bị chìm. Tiến trình này kéo dài mãi tới cách đây 11.446 năm khi hòn đảo cuối cùng của nó (nếu dịch theo tên bản xứ thì chúng ta có thể gọi nó là Poseidonis cho tiện) đã chìm xuống do bị sụp.
“Châu Lemuria (một châu còn trước nữa trải dài về phía Nam từ Ấn Độ băng qua vùng giờ đây là Ấn độ dương, nhưng có nối liền với châu Atlantis vì lúc bấy giờ châu Phi chưa tồn tại) không được nhầm lẫn với châu Atlantis, cũng như không được nhầm lẫn châu Âu với châu Mỹ. Cả hai châu này bị chìm xuống mặt nước cùng với nền văn minh cao tột và các ‘vị thần linh’, thế nhưng có một thời kỳ khoảng 700.000 năm trôi qua giữa hai đại họa này. Châu Lemuria đã phồn thịnh và chấm dứt đời sinh hoạt của mình vào lúc trước thời kỳ đầu của Hạ tằng Đệ tam kỷ vì giống dân ở Lemuria là giống dân thứ ba. Ta hãy xem di tích của cái quốc gia đã từng một thời vang bóng đó nơi một số những thổ dân đầu dẹt ở châu Úc của con.”
Về phần những người mới viết về châu Atlantis thì thật là nhầm lẫn những người Ấn Độ và Ai Cập với những tộc đoàn của châu Atlantis, nhưng điều này cũng chả được mấy lúc.
Sư phụ kính mến của tôi có hỏi: “Tại sao các nhà địa chất học của con không nhớ rằng bên dưới những lục địa mà họ đã thám hiểm và thăm dò, và họ đã tìm thấy Hạ tằng Đệ tam kỷ trong lòng những lục địa đó bắt buộc nó phải tiết lộ những bí mật cho mình biết; tại sao lại không có thể có ẩn tàng bên dưới đáy biển khôn dò hoặc đúng hơn là lúc chưa được ai thăm dò, có những lục địa còn xa xưa hơn nữa mà khoa địa chất học chưa bao giờ thám hiểm tới những địa tằng của chúng; một ngày nào đó những địa tằng này có thể làm đảo lộn hoàn toàn các thuyết hiện nay của họ? Tại sao lại không thừa nhận rằng giống như châu Lemuria và châu Atlantis, các lục địa hiện nay của ta đã nhầm lẫn bị chìm rồi, có thời gian xuất hiện trở lại, nâng đỡ những nhóm nhân loại và nền văn minh mới; sao không thừa nhận rằng vào kỳ đảo lộn địa chất lớn lao đầu tiên của đại họa sắp đến trong hàng loạt các đại họa xảy ra theo định kỳ từ đầu đến cuối mỗi cuộc tuần hoàn, thì những lục địa mà chúng ta đã mày mò mổ khám rồi sẽ bị chìm xuống, còn châu Lemuria và Atlantis lại nổi lên?”
Bức thư mà tôi đang trích ra đây được viết để trả lời một loạt câu hỏi mà tôi nêu ra: “Dĩ nhiên giống dân thứ tư cũng đã có thời kỳ đạt nền văn minh cao tột. Nền văn minh Hi Lạp, La Mã và ngay cả Ai Cập nữa cũng chẳng ăn nhằm gì so với nền văn minh bắt đầu cùng với giống dân thứ ba. Những người thuộc giống dân thứ nhì không phải là người dã man nhưng không thể gọi là người văn minh được.
Người Hi Lạp và La Mã là các giống dân phụ nhỏ, còn người Ai Cập là một bộ phận của dòng dõi Caucase của chính chúng ta. Con hãy xem dòng dõi Caucase ở Ấn Độ. Sau khi đã đạt đến nền văn minh cao tột, hơn nữa nền học vấn cao tột, thì cả hai đều bị suy vong; Ai Cập với vai trò là một giống dân phụ riêng biệt đã hoàn toàn biến mất (người Copt chẳng qua chỉ là một tàn tích đã lai giống); Ấn Độ với vai trò là một trong những hậu duệ của mẫu chủng đầu tiên và hùng mạnh nhất, bao gồm một số giống dân phụ vẫn còn tồn tại cho tới tận ngày nay và đang phấn đấu để giành lại địa vị của mình trong lịch sử tương lai. Cái lịch sử đó chỉ mới thoáng nhìn được một chút điều tản mạn và lờ mờ về Ai Cập cách đây 12.000 năm mà sau khi đã đạt tới tột đỉnh chu kỳ hàng ngàn năm trước đó thì Ai Cập bắt đầu suy vi.
Người Chaldée đã đạt tới tột đỉnh tiếng tăm lừng lẫy về huyền bí học trước cả cái thời mà con gọi là Thời kỳ Đồ đồng. Chúng tôi chủ trương – nhưng mà thế thì liệu con có bảo đảm được với thế giới rằng chúng tôi là chí lý không? – rằng đã có những nền văn minh lớn lao hơn cả nền văn minh của chúng ta đã thịnh rồi lại suy. Nói như một số các tác giả hiện đại là có một nền văn minh đã tuyệt chủng tồn tại trước cả nền văn minh La Mã và Athene; nói như vậy cũng chưa đủ. Chúng tôi quả quyết rằng có hàng loạt những nền văn minh tồn tại trước cũng như sau thời kỳ băng hà, chúng tồn tại ở nhiều nơi trên địa cầu đạt tới tột đỉnh vinh quang rồi lại bị diệt vong. Người ta chẳng còn có được vết tích và ký ức nào về các nền văn minh Assyria và Phoenicia cho tới khi người ta bắt đầu khám phá được chúng cách đây vài năm. Thế là bây giờ chúng mở ra một chương mới, mặc dù cho đến nay không phải là một chương sớm nhất trong lịch sử loài người. Những nền văn minh đó thì có xa xưa gì mấy so với những nền văn minh cổ nhất, thế mà lịch sử cũng còn ngần ngại và chậm chạp khi chấp nhận chúng. Khảo cổ học đã chứng tỏ đúng mức rằng ký ức của con người lùi lại xa hơn mức mà lịch sử sẵn lòng chấp nhận và sử liệu thiêng liêng của quốc gia một thời hùng cường do con cháu họ bảo tồn được vẫn còn đáng tin cậy hơn nữa. Chúng ta nói tới những nền văn minh thời tiền băng hà, chẳng những trong đầu óc của người bình dân và kẻ phàm phu, mà ngay cả theo ý kiến của địa chất gia bác học thì lời rêu rao này nghe ra cũng phi lý. Vậy thì điều mà con nói về việc chúng ta khẳng định rằng người Trung hoa – hiện nay ta nói tới người Trung hoa lục địa chân chính chứ không phải là sự pha trộn lai giống giữa các giống dân thứ tư và thứ năm hiện nay đang ngự trên ngôi vua – những người bổn xứ có quốc tịch thuần túy hoàn toàn thuộc về nhánh cao nhất và nhánh cuối cùng của giống dân thứ tư, họ đã đạt tới nền văn minh cao tột khi giống dân thứ năm vừa mới xuất hiện ở Á châu. Vào lúc nào vậy? Con thử tính xem. Nhóm đảo mà Nordenskiöld trên tàu Vega tìm thấy rải rác có những hóa thạch của loài ngựa, cừu, trâu, bò v. v. . . ở giữa những cái xương khổng lồ cùa loài voi, khổng tượng, tê giác và những con quái vật khác thuộc về những thời kỳ mà khoa học bảo rằng con người còn chưa xuất hiện trên trái đất. Làm thế nào mà ta lại tìm thấy những con ngựa và những con cừu sống lẫn lộn với những con thú khổng lồ trước thời đại hồng thủy?
“Chẳng bao lâu nữa người ta sẽ chứng tỏ được rằng cái vùng giờ đây bị khóa chặt trong những xiềng xích của mùa đông vĩnh cửu, nơi mà con người (con vật mong manh nhất) không cư trú được, thì vùng này không những có khí hậu nhiệt đới (một điều mà khoa học có biết và không tranh cãi) mà còn là nơi chốn của một trong những nền văn minh cổ nhất thuộc giống dân thứ tư; giờ đây chúng ta tìm thấy những di chỉ cao nhất của giống dân này nơi những người Trung hoa đã thoái hóa, còn di tích thấp nhất đã bị nhà khoa học phàm tục trộn lẫn một cách tuyệt vọng với những di tích của giống dân thứ ba. Trước kia ta có cho biết rằng những người cao siêu nhất hiện nay trên thế giới (xét về mặt tâm linh) thuộc về giống dân phụ thứ nhất của giống dân chính thứ năm, tức là những người Aryan ở Á châu còn giống dân cao nhất (xét về mặt trí phàm) chính là giống dân phụ cuối cùng của giống dân chính thứ năm, tức là những người thực dân da trắng của các con. Đa số nhân loại thuộc về giống dân phụ thứ bảy của giống dân chính thứ tư – những người Trung hoa nêu trên với những hậu duệ và những nhánh nhóc của họ (người Mã lai, Mông cổ, Tây tạng, đảo Java v. v. . . ) cùng với tàn tích thuộc các giống dân phụ khác thứ tư và thứ bảy của giống dân chính thứ ba. Tất cả những người dường như đã sa đọa thoái hóa này là con cháu trực hệ của những nền văn minh cao tột mà tên tuổi và ký ức về chúng không sống còn nữa, ngoại trừ trong những quyển sách như ‘Populvuh’, tức là quyển thánh thư của người Guatamala và một vài quyển sách khác mà khoa học không biết.”
Tôi đã tìm hiểu xem có cách nào để giải thích cho điều dường như là sự hối hả kỳ lạ qua việc con người tiến bộ trong vòng hai ngàn năm vừa qua so với tình trạng tương đối ngưng trệ của những người thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư mãi cho đến khi bắt đầu có sự tiến bộ hiện nay. Chính câu hỏi này đã gợi ra lời giải thích vừa được trích dẫn nêu trên cũng như những nhận xét sau đây liên quan tới “sự hối hả” mới đây “trong sự tiến bộ của loài người.”
“Phần cuối cùng của một chu kỳ rất quan trọng. Mỗi cuộc tuần hoàn, mỗi giống dân chính cũng như mỗi giống dân phụ đều có các chu kỳ lớn và nhỏ trên mọi hành tinh mà nhân loại trải qua. Nhân loại thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư cũng có một chu kỳ lớn, và các giống dân chính và giống dân phụ của nó cũng vậy. “Sự hối hả kỳ lạ” là do tác dụng kép của cuộc tuần hoàn thứ tư đang bắt đầu đi xuống cùng với tác dụng của các giống dân (chu kỳ nhỏ của giống dân phụ của con) đã đạt tới tột đỉnh. Nên nhớ rằng con thuộc về giống dân thứ năm, thế nhưng con chẳng qua chỉ là giống dân phụ Tây phương. Cho dù có cố gắng đến đâu đi nữa thì cái mà con gọi là văn minh chỉ được hạn chế vào giống dân phụ Tây phương cùng với hậu duệ của nó ở châu Mỹ. Khi tỏa ra xung quanh, ánh sáng hào nhoáng của nó dường như có thể chiếu xa hơn mức nó thực sự đạt được. Ở Trung hoa không có sự hối hả, còn ở Nhật Bản thì con chỉ có được một bức biếm họa.
“Một sinh viên huyền bí học không được nói tới tình trạng ngưng trệ của những người thuộc cuộc tuần hoàn thứ tư, vì lịch sử hầu như chẳng biết gì về tình trạng đó, ‘mãi cho đến khi bắt đầu sự tiến bộ hiện nay’ của các quốc gia khác các quốc gia phương Tây. Chẳng hạn như con biết gì về châu Mỹ trước khi người Tây ban nha xâm lược nó? Không đầy hai thế kỳ trước khi Cortez tới đó thì đã có một sự hối hả tiến bộ trong đám các giống dân phụ ở Peru và Mexico, cũng giống như hiện nay có sự tiến bộ ở Âu châu và nước Mỹ. Các giống dân phụ này đã bị kết liễu và hầu như tuyệt chủng do những nguyên nhân mà chính mình gây ra. Chúng ta chỉ có thể nói tới tình trạng ‘ngưng trệ’ mà mọi giống dân chính và giống dân phụ đều gặp phải trong những giai đoạn chuyển tiếp tuân theo luật thành trụ hoại không. Lịch sử thế giới của con chỉ quen thuộc với những giai đoạn chuyển tiếp này, trong khi nó hoàn toàn mù tịt về tình trạng của Ấn Độ ngay cả chỉ cách đây vài chục thế kỷ. Các giống dân phụ của con giờ đây đã đạt tới tột đỉnh chu kỳ của riêng mình, và lịch sử sẽ không đi quá xa hơn thời kỳ suy vong của một vài giống dân phụ khác mà hầu hết thuộc về giống dân chính thứ tư có trước đó.”
Tôi đã hỏi châu Atlantis thuộc về thời kỳ nào và liệu cái thảm họa hủy diệt nó có xảy ra ở một nơi đã định trong diễn trình tiến hóa mà đối với sự phát triển của các giống dân thì tương ứng với chu kỳ hoại không của các hành tinh. Câu trả lời là như sau:
“Thuộc về Trung tân kỳ Đệ tam kỷ. Trong sự tiến hóa của các cuộc tuần hoàn thì mọi chuyện xảy ra đều đúng lúc và đúng nơi đã định, bằng không thì nhà thấu thị lỗi lạc nhất cũng chẳng thể tính toán chính xác được năm tháng ngày giờ xảy ra những thảm họa lớn và nhỏ. Một vị Chơn sư cũng chỉ có thể tiên đoán một thời kỳ gần đúng, trong khi mà giờ đây những biến cố gây ra những biến động to lớn về địa chất học có thể được tiên đoán một cách chính xác như toán học giống như các kỳ nhật nguyệt thực và những sự xoay vòng khác trong không gian. Châu Atlantis (nhóm lục địa và quần đảo) bị chìm trong thời Trung tân kỳ Đệ tam kỷ – cũng như giờ đây người ta thấy một vài lục địa của con đang dần dần bị chìm xuống – và nó đạt tột đỉnh một là qua sự biến mất tối hậu của lục địa lớn nhất, một biến cố đồng thời với sự nâng cao của dãy núi Alpes, hai là sự biến mất của hòn đảo cuối cùng trong những hòn đảo đẹp đẽ mà Plato có nhắc đến. Những vị tu sĩ Ai Cập ở Saїs đã bảo tổ tiên của ông tức là Solon rằng châu Atlantis (nghĩa là hòn đảo lớn duy nhất còn lại) đã bị diệt vong 9.000 năm trước thời của họ. Đây không phải là một ngày tháng bịa đặt, vì họ đã bảo tồn sử liệu của mình một cách kỹ lưỡng nhất trong hàng nghìn năm. Nhưng thế thì ta xin nói rằng họ chỉ nhắc đến đảo Poseidonis và thậm chí không tiết lộ cho nhà lập pháp vĩ đại người Hi lạp nêu trên niên đại học bí mật của mình. Vì không có lý do nào về địa chất học để mà nghi ngờ, ngược lại có cả đống bằng chứng để chấp nhận truyền thuyết, cho nên khoa học cuối cùng đã chấp nhận sự tồn tại của lục địa lớn cùng với quần đảo đó, như vậy đã chứng minh cho sự xác thực của một huyền thoại nữa.
Mỗi khi có một kỳ hoại không sắp đến thì luôn luôn là có những thảm họa do lửa hay nước báo điềm. Nhưng ngoài điều này ra thì có thể nói rằng mọi giống dân chính đều phải bị xẻ làm đôi bởi hoặc là lửa hoặc là nước. Như vậy là sau khi đã đạt tới tột đỉnh sự phát triển vinh quang thì giống dân thứ tư Atlante đã bị nước hủy diệt; giờ đây con chỉ tìm thấy được những di tích đã sa đọa thoái hóa của chúng, tuy nhiên mỗi giống dân phụ này đều có thời kỳ oanh liệt vàng son và tương đối rạng rỡ. Bây giờ chúng như thế nào thì một ngày kia con cũng sẽ giống như vậy, luật chu kỳ là một luật bất di bất dịch. Khi giống dân thứ năm của con đạt tới tột đỉnh về trí phàm và đã phát triển được nền văn minh cao nhất (nên nhớ sự khác nhau giữa nền văn minh vật chất và nền văn minh tinh thần) và không thể tiến cao hơn được nữa trong chu kỳ của riêng mình, thì việc nó tiến về điều ác tuyệt đối sẽ bị chận lại (giống như những giống dân tiền bối của nó thuộc giống dân thứ ba và thứ tư tức giống dân Lemuria và Atlante đã bị chận lại khi cũng tiến về điều ác tuyệt đối đó) bởi trong những biến động đầy thảm họa khiến cho nền văn minh lớn lao của nó bị tiêu diệt, và mọi giống dân phụ của giống dân này sẽ lại sa đọa trong những chu kỳ riêng của mình sau một thời kỳ ngắn rạng rỡ với đầy học thuật. Con hãy xem di tích của người Atlante, người cổ Hi Lạp và người cổ La mã (người Hi Lạp và La Mã hiện đại thuộc về giống dân thứ năm). Con hãy xem thời kỳ lừng lẫy và vinh quang của họ lớn lao, ngắn ngủi và phù du biết là chừng nào. Đó là vì họ chẳng qua chỉ là các giống dân phụ của bảy hậu duệ của giống dân chính [[2]]. Một định luật khống chế không cho phép giống dân chính chứ đừng nói giống dân phụ và các nhánh nhóc của chúng xâm phạm vào những đặc quyền của giống dân chính và giống dân phụ nối tiếp nó, chưa kể tới việc xâm phạm vào kho tri thức và quyền năng được dành sẵn cho giống dân kế tiếp nữa.”
“Sự tiến về điều ác tuyệt đối” (đến lượt nó bị các thảm họa của mỗi giống dân chận lại) bắt đầu khi người ta dùng những sự khảo sát trí tuệ bình thường và những tiến bộ của khoa học để thụ đắc được những quyền năng đối với Thiên nhiên mà ngay cả giờ đây quả vị Chơn sư đã đạt được do phát triển quá sớm những quyền năng cao siêu hơn mức mà chúng ta thường dùng. Tôi đã nói sơ sơ tới những quyền năng này ở một chương trước kia khi tôi cố gắng mô tả các vị đạo sư bí truyền; muốn mô tả tỉ mỉ thì tôi ắt phải lạc đề dài dòng khi nói về những hiện tượng huyền bí. Cần phải nói rằng chúng chỉ gây nguy hiểm cho xã hội nói chung và gây ra đủ thứ tội ác hoàn toàn không thể dò la ra được nếu chúng thuộc quyền sở hữu của những kẻ coi chúng chẳng khác gì một kho báu thiêng liêng sâu kín. Thế mà một số những quyền năng này chỉ là việc áp dụng thực tế những lực huyền vi của Thiên nhiên mà người ta có thể khám phá được qua diễn trình tiến bộ khoa học bình thường. Người Atlante thời xưa đã thành tựu được sự tiến bộ đó. Những nhà khoa học trần tục của giống dân này đã học được bí mật của sự tụ và tán vật chất mà chỉ một ít nhà thần linh học thực tế cho tới nay mới biết có thể làm được; họ cũng kiểm soát được các tinh linh ngũ hành để có thể tạo ra những hiện tượng còn phi phàm hơn nữa. Các quyền năng như thế mà lọt vào tay những kẻ chỉ hăm hở sử dụng chúng vào những mục đích ích kỷ vô lương tâm, thì chẳng những chỉ gây ra tai họa cho xã hội mà đối với những người sở đắc được chúng thì sự tiến bộ theo chiều hướng đề cao tâm linh một cách độc ác như thế ắt có một hậu quả còn khủng khiếp hơn nhiều so với sự đau khổ và cực nhọc trong thế giới ngày nay. Như vậy khi trí phàm không bị kiểm soát bởi đạo đức cao siêu và lộng hành xâm nhập vào lãnh vực riêng của sự tiến bộ tâm linh thì định luật thiên nhiên phải mạnh mẽ ra tay chận đứng nó lại. Ta sẽ hiểu rõ tình huống này hơn khi ta xét đến những số phận nói chung mà loài người đang hướng tới.
Như vậy người ta đã khẳng định rõ rệt được cái nguyên tắc theo đó đủ thứ giống dân khi phát triển lên thì đều bị định luật chu kỳ kiểm soát một cách tập thể, cho dù xét về mặt cá nhân, họ có quyền vận dụng tự do ý chí mà chắc chắn là họ có được. Đối với những người chưa bao giờ xem xét các sự vụ của nhân loại trải dài hơn một thời kỳ rất ngắn mà lịch sử có bàn đến thì có lẽ thông lệ của những diễn trình biến cố này không cho thấy có tính cách chu kỳ, mà đúng hơn là một sự tiến bộ theo kiểu di chuyển trên bàn cờ, đôi khi được đẩy nhanh do những vĩ nhân và hoàn cảnh thuận lợi, đôi khi lại bị chậm trễ do chiến tranh, sự ngu tín hoặc những thời kỳ mà trí tuệ cẳn cỗi, nhưng xét về lâu về dài thì nó vẫn tiến lên phía trước liên tục theo một tốc độ nào đó. Vì quan điểm bí truyền về vấn đề này (vốn được củng cố do sự quan sát rộng khắp mà khoa học huyền bí có thể thực hiện được) hoàn toàn có khuynh hướng ngược lại, cho nên dường như cũng bõ công khi ta kết luận những lời giải thích này bằng một đoạn trích dẫn của một tác giả xuất sắc hoàn toàn không dính dáng gì tới thế giới huyền bí, thế mà khi quan sát kỹ lưỡng chỉ những sử liệu thôi, ông cũng dứt khoát nói lên lời ủng hộ thuyết chu kỳ. Trong quyển Lịch sử Phát triển Trí tuệ ở Âu châu, Tiến sĩ J. W. Draper có viết như sau:
“Chúng ta thường bảo rằng mình là các tạo vật do hoàn cảnh. Trong cách diễn đạt đó có một triết lý cao siêu hơn mức mà ta thoạt nhìn thấy được . . . Vì vậy do quan điểm chính xác hơn này, chúng tôi xin xem xét diễn tiến của các sự việc với việc thừa nhận nguyên lý các sự việc con người diễn ra một cách xác định, mở rộng và triển khai thêm nữa. Vì thế chúng ta thấy rằng những điều mà chúng ta bảo tưởng chừng là những vấn đề do chọn lựa thì thực ra lại bị nhu cầu của thời đại áp đặt lên những người xét theo bề ngoài gây ra những chuyện đó. Sự thật thì ta phải coi chúng là sự hiển bày của một giai đoạn sống nào đó mà các quốc gia sớm muộn gì cũng phải trải qua trong quá trình tiến lên. Đối với cá nhân chúng ta thừa biết rằng một cách hành động mực thước, một tác phong nghiêm chỉnh đúng mức vốn thuộc về giai đoạn trưởng thành trong cuộc đời, là sự thay đổi từ giai đoạn cứng đầu, nhí nhảnh của tuổi thanh xuân mà người ta thường nhận thấy là nó bắt đầu bởi những sự việc ngẫu nhiên. Có lẽ trong một trường hợp này đó là một tang chế trong gia đình, trong trường hợp kia là sự mất của, còn trong trường hợp thứ ba là do đau ốm. Chúng ta cũng chính xác thôi nếu bảo rằng việc thay đổi tính tình đó được gán cho việc ta phải trải qua những thử thách nêu trên, nhưng chúng ta không bao giờ lừa gạt chính mình bằng cách giả sử rằng nếu những diễn biến trên không xảy ra thì chúng ta sẽ không thay đổi tính tình. Trong số tất cả những sự thăng trầm đó thì có một vận mệnh mà ta không chống lại được . . . Có những sự tương tự giữa cuộc sống của một quốc gia và cuộc đời của một cá nhân; mặc dù xét về một phương diện nào đó y có thể tạo ra chính số phận của mình (hạnh phúc hay đau khổ, tốt hay xấu) mặc dù y vẫn còn đi đó đi đây theo sự thôi thúc của những khuynh hướng của mình, mặc dù y làm điều này hoặc không làm điều kia tùy thích; song le y vẫn bị gò bó bởi một số phận khắc khe, một số phận đưa y vào cuộc đời một cách không tự nguyện (xét về cá nhân y) số phận này thôi thúc y trải qua một đời sinh hoạt nhất định mà những giai đoạn của nó hoàn toàn bất biến: tuổi sơ sinh, tuổi con nít, tuổi thanh xuân, tuổi trưởng thành, tuổi già với mọi hành động và đam mê đặc trưng của những tuổi đó, thế rồi nó lại rút y ra khỏi sân khấu đó vào đúng lúc đã định mà trong hầu hết trường hợp là y không hề muốn. Đối với các quốc gia thì cũng như vậy. Sự tự nguyện chỉ là cái dáng vẻ che đậy bên ngoài nhưng khó lòng mà che giấu sự tiền định. Chúng ta có thể kiểm soát được những biến cố trong đời mình chứ tuyệt nhiên không kiểm soát được qui luật diễn biến của nó. Có một môn hình học áp dụng cho các quốc gia một phương trình với đường cong tiến bộ mà không một kẻ phàm tục nào với tới được.”